mở đầu và kết luận thì có thêm những sơ đồ và bảng biểu minh họa, các tài liệu tham khảo, đề án đƣợc kết cấu thành ba chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về Triển khai chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. Chƣơng II: Thực trạng triển khai chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. Chƣơng III: Một số Giải pháp công tác triển khai chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. 7 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRIỂN KHAI CHIẾN LƢỢC KINH DOANH 1.1 Một số kh i niệm cơ bản 1.1 Chiến lƣợc, c c cấp chiến lƣợc 1.
Chiến lƣợc Theo định nghĩa, chiến lƣợc là một thuật ngữ quân sự dùng để mô tả việc lập kế hoạch và phân bổ lực lƣợng với mục tiêu đánh bại kẻ thù. Chiến lƣợc gia thế kỷ 19 Karl von Clausewitz đã mô tả chiến lƣợc là “lập kế hoạch chiến tranh và lập kế hoạch tác chiến. Những hoạt động này sẽ quyết định sự tham gia của các cá nhân.” Gần đây, nhà sử học Edward Mead Earle) mô tả chiến lƣợc là “nghệ thuật kiểm soát và sử dụng các nguồn lực của một quốc gia hoặc liên minh các quốc gia để đảm bảo và nâng cao hiệu quả của các lợi ích quan trọng của quốc gia đó.” Các tổ chức kinh doanh ngày nay cũng áp dụng các khái niệm chiến lƣợc tƣơng tự cho tổ chức của họ nhƣ quân đội. Chiến lƣợc là một kế hoạch nhằm kiểm soát và sử dụng các nguồn lực của tổ chức, chẳng hạn nhƣ con ngƣời, tài sản và tài chính, nhằm mục đích nâng cao và đảm bảo các lợi ích thiết yếu của tổ chức.
Theo chiến lƣợc gia Kenneth Andrews, chiến lƣợc là những hành động mà một tổ chức phải thực hiện dựa trên những điểm mạnh và điểm yếu của nó trong bối cảnh cơ hội và đe dọa. Ngƣời sáng lập Tập đoàn Tƣ vấn Boston Bruce Henderson (1963) đã liên kết khái niệm chiến lƣợc với lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh đƣợc hiểu là đặt doanh nghiệp vào vị trí tốt hơn đối thủ, từ đó tạo ra giá trị kinh tế tốt hơn cho khách hàng. Ông cho rằng “Chiến lƣợc là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp với lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Sự khác biệt giữa bạn và đối thủ là cơ sở cho lợi thế của bạn” và ông cũng cho rằng không có sự tồn tại của hai đối thủ nếu cách kinh doanh của họ giống hệt nhau. Đồng quan điểm trên Michael Porter (1980) cũng nhận định Chiến lƣợc cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt. Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập hợp các giá trị độc đáo”. Vậy chiến lƣợc là gì? Chiến lƣợc là một kế hoạch mang lại cho tổ chức một lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh.
Chiến lƣợc là việc hiểu rõ mục tiêu của những gì doanh nghiệp đang làm và tập trung vào việc lập kế hoạch để đạt đƣợc những mục tiêu đó. Một chiến lƣợc tốt đƣợc thực hiện một cách hiệu quả sẽ giúp các nhà quản lý và nhân viên trong tổ chức xác lập mục tiêu, xác định phƣơng 8 hƣớng hành động và góp phần vào thành công của doanh nghiệp. Ngƣợc lại, một doanh nghiệp không có chiến lƣợc giống nhƣ con thuyền không có ngƣời lái. Chúng ta có một số khái niệm chiến lƣợc tiêu biểu của các tác giả sau: Theo Alfred Chandler (1962): “Chiến lƣợc bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”.
Gluech (1980): “Chiến lƣợc là một kế hoạch mang tính thống nhất, toàn diện và tính phối hợp, đƣợc thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ đƣợc thực hiện”. David (2006): “Chiến lƣợc là những phƣơng tiện đạt tới mục tiêu dài hạn. Chiến lƣợc kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hoá hoạt động, sở hữu hoá, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trƣờng, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh”. Porter (1996): “Chiến lƣợc là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”.
Nhƣ vậy, ta thấy, có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về chiến lƣợc. Nhƣng nhìn chung, có thể hiểu: chiến lƣợc là tập hợp các quyết định (mục tiêu, lộ trình, chính sách, phƣơng pháp, phân bổ nguồn lực .) và các hƣớng dẫn hành động nhằm đạt đƣợc mục tiêu dài hạn và phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu. tổ chức, giúp tổ chức tiếp cận các cơ hội và vƣợt qua các mối đe dọa từ bên ngoài theo cách tốt nhất có thể. Phân loại chiến lƣợc Quản trị chiến lƣợc có thể tiến hành ở cả 3 cấp cơ bản là cấp công ty, cấp đơn vị kinh doanh và cấp bộ phận chức năng.
Về hình thức, quá trình quản trị chiến lƣợc là nhƣ nhau ở các cấp, nghĩa là bao gồm đầy đủ một quy trình quản trị chiến lƣợc sẽ đƣợc đề cập ở mục sau. Nhƣng nội dung chiến lƣợc trong từng giai đoạn của từng cấp là khác nhau. Chiến lƣợc cấp công ty: Chiến lƣợc cấp công ty xác định những định hƣớng lớn, những mục tiêu trong dài hạn. Các chiến lƣợc có thể là chiến lƣợc tăng trƣởng tập trung nhằm thâm nhập thị trƣờng, phát triển thị trƣờng, phát triển sản phẩm mới hoặc là chiến lƣợc hội nhập ngang, hội nhập dọc hoặc là chiến lƣợc tăng trƣởng đa dạng hóa…Trên cơ cở của chiến lƣợc công ty, các đơn vị kinh doanh và bộ phận chức năng sẽ triển khai thực hiện chiến lƣợc của mình.
Vai trò của chiến lƣợc cấp công ty là xác định doanh 9 nghiệp đã tham gia bao nhiêu lĩnh vực kinh doanh và đó là lĩnh vực nào. Cũng nhƣ tìm kiếm, huy động và phân bổ các nguồn lực hợp lý để phục vụ cho mục tiêu chiến lƣợc đã đề ra. Chiến lƣợc cấp công ty là chiến lƣợc bao quát trên phạm vi toàn doanh nghiệp, đƣợc lãnh đạo sử dụng để xác định và quản lý ngành doanh nghiệp tham gia cạnh tranh để tăng cƣờng vị thế doanh nghiệp. Chiến lƣợc cấp kinh do nh (SBU): Đơn vị kinh doanh của công ty thực hiện kinh doanh theo một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nên SBU nhằm định hƣớng phát triển từng ngành hoặc từng loại sản phẩm dịch vụ góp phần hoàn thành chiến lƣợc cấp công ty.
Dựa trên những phân tích môi trƣờng bên ngoài, môi trƣờng nội bộ và chiến lƣợc của công ty, đơn vị kinh doanh sẽ phải xác định lợi thế kinh doanh của mình để xây dựng chiến lƣợc phù hợp. Nói khác đi là SBU chính và việc triển khai cụ thể hóa chiến lƣợc kinh doanh của công ty nhằm tạo lợi thế cạnh tranh về sản phẩm, chất lƣợng dịch vụ mà đơn vị kinh doanh đang có lợi thế. Chiến lƣợc cấp chức năng: Đây là chiến lƣợc của cấp đơn vị cơ sở, là các bộ phận chức năng trong công ty nhƣ marketing, nhân sự, tài chính, nghiên cứu và phát triển. Trong mối quan hệ với các chiến lƣợc cấp đơn vị kinh doanh và chiến lƣợc công ty, thì chiến lƣợc cấp bộ phận chức năng sẽ hỗ trợ cho các chiến lƣợc kia vì mỗi bộ phận chức năng sẽ có chiến lƣợc cụ thể của bộ phận của mình nhƣ nhân sự sẽ có chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực, marketing có chiến lƣợc 4P, tài chính có chiến lƣợc đầu tƣ tài chính cho sản phẩm mới…Các chiến lƣợc này thƣờng có thời gian theo từng thời kỳ của quá trình thực hiện SBU và chiến lƣợc cấp công ty.
Các chiến lƣợc ở cả 3 cấp đều có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chiến lƣợc của cấp trên là tiền đề cho chiến lƣợc cấp dƣới. Việc thực hiện thành công các chiến lƣợc cấp thấp hơn sẽ giúp công ty đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra.Từ đó việc xây dựng và lựa chọn chiến lƣợc ở cấp dƣới phải thích hợp và có hƣớng phối hợp lẫn nhau thì tiến trình thực hiện chiến lƣợc của công ty mới có khả năng thành công và đạt hiệu quả cao.2 Quản trị chiến lƣợc và c c gi i đoạn “Quản trị chiến lƣợc đƣợc định nghĩa là một tập hợp các quyết định và hành động đƣợc thể hiện thông qua kết quả của việc hoạch định, thực thi và đánh giá các chiến lƣợc, đƣợc thiết kế nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra của một doanh 10 nghiệp” (F. Từ định nghĩa này có thể thấy: Hoạch định - Thực thi - Đánh giá là ba hoạt động cơ bản của quá trình quản trị chiến lƣợc.
Gi i đoạn hoạch định chiến lƣợc: Hoạch định chiến lƣợc là một quá trình thiết lập nhiệm vụ kinh doanh; thực hiện điều tra nghiên cứu để xác định các cơ hội/thách thức, điểm mạnh/điểm yếu bên ngoài và bên trong doanh nghiệp; đề ra các mục tiêu dài hạn và lựa chọn các chiến lƣợc để thay thế mà những vấn đề cụ thể trong đó đƣợc giải quyết theo một cách thức hợp lý. Gi i đoạn triển kh i chiến lƣợc: Triển khai chiến lƣợc chính là giai đoạn hành động của quản trị chiến lƣợc. Triển khai chiến lƣợc bao gồm những công việc nhằm làm cho chiến lƣợc đƣợc thực hiện và đạt đƣợc mục tiêu định trƣớc nhƣ kế hoạch đã định ra. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp cần phải tìm ra cái gì phải tiến hành để chiến lƣợc đƣợc thực hiện, triển khai thành công và đem lại kết quả cao.
Gi i đoạn kiểm tr và đ nh gi chiến lƣợc: Đánh giá chiến lƣợc là giai đoạn cuối cùng của quá trình quản trị chiến luợc, bao gồm 3 hoạt động chính: xem xét lại các yếu tố là cơ sở cho các chiến luợc hiện tại; đo lƣờng thành tích; và thực hiện các hoạt động điều chỉnh. Giai đoạn đánh giá chiến lƣợc là cần thiết vì thành công hiện tại không bảo đảm cho thành công trong tƣơng lai. Sau thành công luôn có những vấn đề mới nảy sinh, đồng thời luôn có sự thay đổi trong các yếu tố môi trƣờng.3 Triển kh i chiến lƣợc Quá trình có tính kỉ luật, tất cả các hành động và quyết định cần thiết cho việc triển khai chiến lƣợc là một quá trình có tính kỉ luật. Các công ty cần chuẩn bị các chiến lƣợc từ sớm để có thể thực thi chiến lƣợc hay nói cách khác về bản chất, thực thi chiến lƣợc là quá trình chuyển đổi sang việc thực hiện chiến lƣợc, chuyển các ý tƣởng đã đƣợc lên kế hoạch trở thành các hành động cụ thể.