Chương 1: Những lý luận cơ bản về xây dựng chiến lƣợc kinh doanh cho doanh nghiệp Chương 2: Phân tích các căn cứ hình thành chiến lƣợc kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại Hải Anh Chương 3: Đề xuất và lựa chọn chiến lƣợc kinh doanh cho công ty trách nhiệm hữu hạn thƣơng mại Hải Anh đến năm 2020 6 z CHƢƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNGCHIẾN LƢỢC KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về chiến lƣợc kinh doanh 1. Khái niệm về chiến lƣợc kinh doanh Thuật ngữ Chiến lƣợc có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với hai từ “Stratos” (quân đội, bày, đoàn) và “agos” (lãnh đạo, điều khiển). Chiến lƣợc đƣợc sử dụng đầu tiên trong quân sự để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn đƣợc đƣa ra trên cơ sở tin chắc đƣợc cái gì đối phƣơng có thể làm và cái gì đối phƣơng có thể không làm.
Học giả Đào Duy Anh, trong từ điển tiếng Việt đã viết: chiến lƣợc là các kế hoạch đặt ra để giành thắng lợi trên một hay nhiều mặt trận. Nhƣ vậy, trong quân sự thuật ngữ chiến lƣợc nói chung đã đƣợc coi nhƣ một nghệ thuật chỉ huy nhằm giành thắng lợi của một cuộc chiến tranh. Thông thƣờng ngƣời ta hiểu chiến lược là khoa học và nghệ thuật chỉ huy quân sự, được ứng dụng để lập kế hoạch tổng thể và tiến hành những chiến dịch có qui mô lớn [8, 5]. Hệ thống chiến lƣợc đang đƣợc nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, chiến lƣợc phát triển các ngành và lĩnh vực, chiến lƣợc phát triển các lãnh thổ (vùng lớn, vùng kinh tế trọng điểm, tỉnh, thành phố), chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp.
Giữa các chiến lƣợc đó có mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ với nhau. Trong lĩnh vực kinh doanh, quản trị chiến lƣợc chỉ thực sự bắt đầu đƣợc nghiên cứu từ những năm 50 của thế kỷ XX. Từ thập kỷ 60 (thế kỷ 20) chiến lƣợc đƣợc ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ “Chiến lược kinh doanh” ra đời. Tuy nhiên, quan niệm về chiến lƣợc kinh doanh cũng đƣợc phát triển dần theo thời gian và ngƣời ta cũng tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau.
Sau đó Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lƣợc trong điều kiện môi trƣờng có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” [15, 6]. Theo các tiếp cận khác, Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện, và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện. Ngoài cách tiếp cận truyền thống nhƣ trên, nhiều tổ chức kinh doanh tiếp cận chiến lƣợc theo cách mới: Chiến lƣợc kinh doanh là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồ lực, tài sản và tài chính nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình. Bruce Henderdon, chiến lƣợc gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn Tƣ vấn Boston đã kết nối khái niệm chiến lƣợc với lợi thế cạnh tranh.
Lợi thế cạnh tranh là việc đặt một công ty vào vị thế tốt hơn đối thủ để tạo ra giá trị về kinh tế cho khách hàng. Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức. Những điều kiện khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn. Ông tin rằng không thể cùng tồn tài hai đối thủ cạnh tranh nếu cách kinh doanh của họ giống hệt nhau.
Cần phải tạo ra sự khác biệt mới có thể tồn tại. Michael Porter cũng tán đồng nhận định của Henderdon: Chiến lược cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt. Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt 8 z động khác biệt để tạo ra một tập giá trị độc đáo. Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lƣợc kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tƣơng lại của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác.
Theo cách hiểu này, thuật ngữ chiến lƣợc kinh doanh đƣợc dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất: - Xác định mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp; - Đƣa ra các chƣơng trình hành động tổngquát; - Lựa chọn các phƣơng án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. Ngày nay, thuật ngữ chiến lƣợc đã đƣợc sự dụng khá phổ biến ở Việt Nam trong nhiều lĩnh vực ở cả phạm vi vĩ mô và vi mô. Ở phạm vi doanh nghiệp, ta thƣờng gặp thuật ngữ chiến lƣợc kinh doanh hoặc chiến lƣợc công ty, quản trị chiến lƣợc. sự xuất hiện các thuật ngữ này không đơn thuần là sự vay mƣợn.
Các khái niệm chiến lƣợc đều bắt nguồn từ sự cần thiết khách quan trong thực tiễn quản trị của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trƣờng hiện nay. Có thể nói, việc xây dựng và thực hiện chiến lƣợc thực sự đã trở thành một nhiệm vụ hàng đầu và là một nội dung, chức năng quan trọng của quản trị doanh nghiệp, nó đang đƣợc áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp. Coi chiến lƣợc kinh doanh là một quá trình quản trị để tiến tới quản trị doanh nghiệp bằng tƣ duy chiến lƣợc với quan điểm: Chiến lƣợc hay chƣa đủ mà phải có khả năng tổ chức thực hiện tốt mới đảm bảo cho doanh nghiệp thành công, quản trị doanh nghiệp mang tầm chiến lƣợc. Đây chính là quan điểm tiếp cận quản trị chiến lƣợc phổ biến hiện nay.
Những đặc trƣng cơ bản của chiến lƣợc kinh doanh Tuy có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về phạm trù chiến lƣợc song các đặc trƣng cơ bản của chiến lƣợc trong kinh doanh đƣợc quan 9 z niệm tƣơng đối thống nhất. Các đặc trƣng cơ bản đó là: - Chiến lƣợc xác định rõ những mục tiêu cơ bản phƣơng hƣớng kinh doanh cần đạt tới trong từng thời kỳ và đƣợc quán triệt đầy đủ trong các lĩnh vực hoạt động quản trị của doanh nghiệp. Tính định hƣớng của chiến lƣợc nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và vững chắc trong môi trƣờng kinh doanh thƣờng xuyên biến động. - Chiến lƣợc kinh doanh chỉ phác thảo những phƣơng hƣớng hoạt động của doanh nghiệp trong dài hạn, khung hoạt động của doanh nghiệp trong tƣơng lai.
Nó chỉ mang tính định hƣớng còn trong thực tiễn hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải kết hợp mục tiêu chiến lƣợc với mục tiêu kinh tế, xem xét tính hợp lý và điều chỉnh cho phù hợp với môi trƣờng và điều kiện kinh doanh để đảm bảo hiệu quả kinh doanh và khắc phục sự sai lệch do tính hƣớng của chiến lƣợc gây ra. - Chiến lƣợc kinh doanh đƣợc xây dựng trên cơ sở các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tốt với việc khai thác và sử dụng các nguồn lực, năng lực cốt lõi của doanh nghiệp trong hiện tai và tƣơng lai nhằm phát huy những lợi thế, nắm bắt cơ hội để giành ƣu thế trong doanh nghiệp. - Chiến lƣợc kinh doanh đƣợc phản ánh trong cả một quá trình liên tục từ xây dựng, đến tổ chức thực hiện, đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh chiến lƣợc. - Chiến lƣợc kinh doanh luôn mang tƣ tƣởng tiến công giành thắng lợi trong cạnh tranh.
Chiến lƣợc kinh doanh đƣợc hình thành và thực hiện trên cơ sở phát hiện và tận dụng các cơ hội kinh doanh, các lợi thế so sánh của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao. - Mọi quyết định chiến lƣợc quan trọng trong quá trình xây dựng tổ chức thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chiến lƣợc đều tập trung vào nhóm quản trị viên cấp cao. Để đảm bảo tính chuẩn xác của các quyết định dài hạn, 10 z sự bí mật thông tin trong cạnh tranh. Vai trò của chiến lƣợc kinh doanh Với những đặc trƣng đó, có thể nói rằng trong cơ chế thị trƣờng việc xây dựng, thực hiện chiến lƣợc kinh doanh có ý nghĩa quan trong đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Lịch sử kinh doanh trên thế giới đã từng chứng kiến không ít ngƣời gia nhập thƣơng trƣờng kinh doanh từ một số vốn ít ỏi, nhƣng họ đã nhanh chóng thành đạt và đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác nhờ có đƣợc chiến lƣợc kinh doanh đúng. Vai trò của chiến lƣợc kinh doanh đối với doanh nghiệp đƣợc thể hiện trên các khía cạnh sau: - Chiến lƣợc kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nhận rõ đƣợc mục đích hƣớng đi của mình trong tƣơng lai và lấy đó làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chiến lƣợc kinh doanh đóng vai trò định hƣớng hoạt động trong dài hạn của doanh nghiệp, nó là cơ sở vững chắc cho việc triển khai các hoạt động tác nghiệp. Sự thiếu vắng chiến lƣợc hoặc chiến lƣợc thiết lập không rõ ràng, không có luận cứ vững chắc sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp mất phƣơng hƣớng, có nhiều vấn đề nảy sinh, chỉ thấy trƣớc mắt mà không gắn đƣợc với dài hạn hoặc chỉ thấy cục bộ mà không thấy đƣợc vai trò của chiến lƣợc trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.
- Chiến lƣợc kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ và mối đe dọa trên thƣơng trƣờng kinh doanh. - Chiến lƣợc kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, tăng cƣờng vị thế của doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và bền vững. - Chiến lƣợc kinh doanh tạo ra các căn cứ vững chắc cho doanh nghiệp, 11 z đề ra các quyết định phù hợp với sự biến động của thị trƣờng. Nó tạo ra cơ sở vững chắc cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tƣ, phát triển đào tạo bồi dƣỡng nhân sự, hoạt động mở rộng thị trƣờng và phát triển sản phẩm.
Cội nguồn của thành công hay thất bại phụ thuộc vào một trong những yếu tố quan trọng là doanh nghiệp có chiến lƣợc kinh doanh nhƣ thế nào. Yêu cầu và căn cứ xây dựng chiến lƣợc kinh doanh * Một số yêu cầu xây dựng chiến lược kinh doanh Khi xây dựng chiến lƣợc kinh doanh các doanh nghiệp cần phải đáp ứng những yêu cầu sau: - Phải bảo đảm tăng thế mạnh của doanh nghiệp và giành đƣợc ƣu thế cạnh tranh trong thƣơng trƣờng kinh doanh.