CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1.1 Khái niệm, vai trò và tình hình nghiên cứu về chiến lược kinh doanh 1.1 Khái niệm chiến lược kinh doanh Cho đến nay rất nhiều cách khái niệm chiến lược, cụ thể như: Năm 1962 Chandler một trong những nhà khởi xướng và phát triển lý thuyết về quản trị chiến lược định nghĩa: chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của doanh nghiệp, và sự chấp nhận chuỗi các hành động cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này. (Chandler, 1962) Năm 1980, Quinn đã định nghĩa: chiến lược là mô thức hay kế hoạch thích hợp các mục tiêu cơ bản, các chính sách và chuỗi các hành động của tổ chức vào trong một tổng thể cố kết chặt chẽ. (Quinn, 1980) Còn theo Porter thì: chiến lược là sự tìm kiếm vị thế cạnh tranh thuận lợi trong ngành- đấu trường chính của các cuộc cạnh tranh, nhằm mục đích tạo lập một vị thế thuận lợi và bền vững trước những sức ép quyết định sự cạnh tranh trong ngành. (Porter, 1985) Theo Johnson và Schole: Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức trong dài hạn, nhằm đạt được lợi thế cho tổ chức thông qua cấu hình các nguồn lực của nó trong bối cảnh của môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu của thị trường và thỏa mãn kỳ vọng của các bên hữu quan.
(Johnson & Scholes, 1999 ) Ta thấy rằng, các định nghĩa phân chia thành nhiều ý, chứng tỏ rằng một định nghĩa chính xác về chiến lược sẽ rất phức tạp. Do đó, phải có các định nghĩa đa diện để giúp hiểu rõ hơn về chiến lược. Mintzberg tóm lược định nghĩa đa diện trong định nghĩa với 5 chữ P: - Kế hoạch (Plan): Một chuỗi các hành động dự định có ý thức. - Khuôn mẫu (Pattern): Sự kiên định về hành vi theo thời gian, dự định hay không dự định - Bố trí (Position): Sự phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó - Triển vọng (Perspective): Một cách thức thâm căn cố đế để nhận thức thế giới.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh Chiến lược giúp các công ty định hướng rõ tầm nhìn chiến lược, sứ mạng và nhiệm vụ của mình.
Muốn quản trị chiến lược có hiệu quả, các tổ chức phải quản lý hệ thống thông tin môi trường kinh doanh. Căn cứ vào đấy, các nhà quản trị có thể dự báo được các xu hướng biến động của môi trường kinh doanh, và xác định nơi nào mà doanh nghiệp cần đi đến trong tương lai, những gì cần phải làm để đạt được những thành quả lâu dài. Việc nhận thức kết quả mong muốn và mục đích trong tương lai giúp cho nhà quản trị cũng như nhân viên nắm được việc gì cần làm để đạt được thành công, tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nhà quản trị và các nhân viên, cùng nổ lực để đạt được các mong muốn. Như vậy sẽ khuyến khích cả hai đối tượng trên đạt được những thành tích ngắn hạn, nhằm cải thiện tốt hơn lợi ích lâu dài của các công ty.
Điều kiện môi trường luôn biến đổi, những biến đổi nhanh thường tạo ra các cơ hội và nguy cơ bất ngờ. Quá trình lập chiến lược buộc nhà quản trị phân tích và dự báo các điều kiện môi trường, nhờ thấy rõ môi trường tương lai mà các nhà quản trị có khả năng nắm bắt tốt hơn các cơ hội, tận dụng hết các cơ hội đó và giảm bớt nguy cơ liên quan đến môi trường kinh doanh, từ đó đưa ra các quyết định mang tính chủ động. Mặc khác, điểm mạnh và điểm yếu luôn tồn tại trong tổ chức, nếu không có chiến lược, doanh nghiệp dễ bằng lòng với những gì hiện có, khi môi trường thay đổi điểm mạnh sẽ nhanh chóng trở thành điểm yếu và có nguy cơ bị đối thủ cạnh tranh khai thác. Ngược lại nếu có chiến lược, hệ thống thông tin của doanh nghiệp luôn rà soát điểm mạnh, điểm yếu để có cơ hội tận dụng điểm mạnh nhằm tăng khả năng cạnh tranh, đồng thời có kế hoạch làm giảm các điểm yếu để hạn chế rủi ro.3 Các cấp chiến lược 1.1 Chiến lược cấp doanh nghiệp Theo PGS.
Trần Anh Tài chiến lược cấp doanh nghiệp là loại chiến lược trả lời cho câu hỏi: Doanh nghiệp sẽ nằm ở đâu trong những ngành kinh doanh nào, 5 z vị trí của doanh nghiệp đối với môi trường và vai trò của từng ngành kinh doanh trong doanh nghiệp. Chiến lược cấp doanh nghiệp do ban quản trị cấp cao trong doanh nghiệp đề ra. Dựa vào chiến lược cấp doanh nghiệp, các nhà quản trị có thể biết được doanh nghiệp cần phải thêm bớt những ngành kinh doanh nào.2 Chiến lược cấp kinh doanh Là chiến lược xác định doanh nghiệp nên cạnh tranh trong mỗi ngành của nó như thế nào. Đối với doanh nghiệp chỉ kinh doanh một mặt hàng thì chiến lược cấp doanh nghiệp đồng thời là chiến lược cấp kinh doanh.
Khi doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng, hoạt động trong nhiều ngành kinh doanh thì trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp hình thành nhiều đơn vị kinh doanh chiến lược độc lập. Một đơn vị đảm nhận một hay một số ngành kinh doanh và tự lập ra chiến lược kinh doanh của đơn vị mình trong sự thống nhất với chiến lược và lợi ích tổng thể của doanh nghiệp.3 Chiến lược cấp chức năng Là chiến lược xác định cần phải hỗ trợ chiến lược cấp kinh doanh như thế nào. Chẳng hạn chiến lược về tài chính, chiến lược nhân sự, chiến lược tiếp thị. Chiến lược cấp chức năng do các bộ phận chức năng (các phòng ban) trong doanh nghiệp đề ra, chiến lược này phải tuân theo và thống nhất với chiến lược kinh doanh.1 cho thấy các phần cơ bản trong quá trình quản trị chiến lược ở các cấp đều giống nhau.
Tuy nhiên vấn đề trọng tâm của mỗi đơn vị kế hoạch hóa liên quan ở mỗi cấp có khác nhau về nội dung. Các cấp chiến lược ( Nguồn: Bùi Văn Đông, 2011. Chiến lược và sách lược kinh doanh) 1.2 Các bước của quá trình hoạch định chiến lược 1.1 Xác định sứ mệnh, mục tiêu của tổ chức Xác định sứ mệnh 8 z Theo PGS. Hoàng Văn Hải có nhiều quan điểm về sứ mệnh công ty.
Tuy nhiên có một điểm chung là sứ mệnh phải giúp cho các nhà quản trị chiến lược hiểu được lý do tồn tại của công ty là gì, công ty có thể đem lại điều gì cho cộng đồng- nơi công ty tiến hành hoạt động kinh doanh. Việc xác định sứ mệnh đúng đắn có một ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản trị nói chung và công tác quản trị chiến lược nói riêng. Sứ mệnh có vai trò lớn trong hình thành chiến lược: Sứ mệnh lớn sẽ nảy sinh mục tiêu cao. Sứ mệnh cũng góp phần thúc đẩy các thành viên của công ty thực thi mục tiêu chiến lược đầy thách thức với niềm hứng khởi và lòng tin lớn hơn.
Bản tuyên bố sứ mệnh của công ty được hình thành từ ba yếu tố: ngành kinh doanh của công ty; triết lý của công ty; ước vọng của giới lãnh đạo cấp cao của công ty. Để xác định ngành kinh doanh, cần trả lời những câu hỏi: “Ngành kinh doanh của chúng ta là gì? Nó sẽ là gì? Và nó cần phải trở thành cái gì?” Để trả lời cho câu hỏi ngành kinh doanh của chúng ta là gì, ông Derek F.Abell đưa ra mô hình xác định ngành kinh doanh gồm 3 khía cạnh: ai là người mà chúng ta cần thỏa mãn (các nhóm khách hàng nào); cái gì cần phải đáp ứng (những nhu cầu cụ thể nào của khách hàng); và làm thế nào để nhu cầu của khách hàng được đáp ứng (bằng những sản phẩm, nguồn lực hoặc những kỹ năng độc đáo nào). Triết lý của công ty là những niềm tin cơ bản, giá trị, khát vọng, thứ tự ưu tiên mà các nhà hoạch định chiến lược cam kết và định hướng cho hoạt động quản trị trong công ty. Nó cho biết công ty dự định tiến hành sản xuất- kinh doanh như thế nào và thường là phản ánh sự nhận biết của công ty về trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh.
Bởi vậy, tuyên bố triết lý của công ty có thể có tác động lớn đến cách thức tiến hành kinh doanh của bản thân công ty. Ước vọng của giới lãnh đạo công ty: những nhà quản trị thường không hẳn đã khách quan khi đánh giá về việc nên lựa chọn tiến trình chiến lược nào. Sự lựa chọn của họ luôn bị tác động bởi tầm nhìn về cách thức cạnh tranh, cách thức định vị kinh doanh và bởi hình tượng, vị thế mà họ muốn công ty của mình sẽ đạt được. 9 z Xây dựng mục tiêu chiến lược Mục tiêu được xác định trên cơ sở sứ mệnh, mục tiêu cụ thể hơn so với sứ mệnh.
Mục tiêu là cột mốc, là đích hay là những kết quả mà tổ chức mong muốn đạt được trong một thời gian nhất định. Mục tiêu chỉ ra phương hướng cho tất cả quyết định và hình thành những tiêu chuẩn đo lường kết quả thực hiện. Để những mục tiêu đó có thể trở thành công cụ quản trị thì nó phải được chỉ ra bằng những con số cụ thể và phải luôn có thời hạn hoàn thành. Điều này nhằm tránh những lối nói chung chung như “ tăng tối đa lợi nhuận”, “giảm chi phí”, “ trở nên hiệu quả hơn”…Do đó, việc đề ra mục tiêu chính là một cách kêu gọi hành động thiết thực: khi nào phải hoàn thành mục tiêu, kết quả cụ thể đạt được là gì và ai là người có trách nhiệm thực hiện.
Mục tiêu chiến lược và mục tiêu tài chính Những mục tiêu quan trọng nhằm hướng đến những kết quả cụ thể là điều mà các nhà quản trị luôn quan tâm để có được thành công. Có hai loại kết quả mà nhà quản trị luôn hướng tới: thứ nhất là thành tích về lợi nhuận, và thứ hai là thành tích về hoạt động chiến lược. Việc đạt được mục đích tài chính là điều bắt buộc đối với mọi công ty nếu không công ty đó sẽ lâm vào tình trạng phá sản. Còn mục tiêu chiến lược là điều thiết yếu giúp duy trì hoạt động bền vững và lâu dài cho công ty, đồng thời giúp nâng cao vị trí và khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường.
Mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn Việc đặt cả mục tiêu ngắn hạn lẫn mục tiêu dài hạn là cần thiết đối với bất kỳ công ty nào. Một chiến lược thực thụ phải biết nhằm vào mục tiêu dài hạn và ngắn hạn, vì quyết định hôm nay sẽ ảnh hưởng đến ngày mai.