Luận án tiến sĩ chi phí hiệu quả của các biện pháp dự phòng sốt xuất huyết dengue tại tỉnh an giang

Luận án tiến sĩ phân tích chi phí hiệu quả của các biện pháp dự phòng sốt xuất huyết dengue tại tỉnh An Giang, đóng góp quan trọng cho y tế công cộng.

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

169
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

1.1.1. Đặc điểm bệnh sốt xuất huyết Dengue

1.1.2. Phân bố dịch tễ của bệnh sốt xuất huyết Dengue

1.1.2.1. Trên thế giới
1.1.2.2. Tại Việt Nam

1.2. CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

1.2.1. Trên thế giới

1.2.2. Tại Việt Nam

1.3. GÁNH NẶNG KINH TẾ VÀ BỆNH TẬT CỦA SXHD

1.3.1. Gánh nặng kinh tế của sốt xuất huyết Dengue

1.3.2. Chi phí điều trị sốt xuất huyết Dengue

1.3.2.1. Trên thế giới
1.3.2.2. Tại Việt Nam

1.3.3. Chi phí dự phòng sốt xuất huyết Dengue

1.3.3.1. Trên thế giới
1.3.3.2. Tại Việt Nam

1.4. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ KINH TẾ Y TẾ

1.4.1. Phân tích chi phí y tế

1.4.2. Đánh giá kinh tế y tế

1.4.3. Kết quả một số đánh giá kinh tế y tế trong dự phòng SXHD

1.5. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.6. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.7. NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH CHI PHÍ

1.8. NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH CHI PHÍ - HIỆU QUẢ

1.9. SAI SỐ VÀ PHƯƠNG PHÁP KHỐNG CHẾ SAI SỐ

1.10. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

1.11. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

1.12. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1. CHI PHÍ CỦA CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG SXHD

2.1.1. Tổng chi phí

2.1.2. Chi phí bình quân đầu người

2.1.3. Cơ cấu chi phí của các biện pháp dự phòng

2.2. CHI PHÍ - HIỆU QUẢ CỦA CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

2.2.1. Đặc điểm đơn vị nghiên cứu

2.2.2. Hiệu quả của các biện pháp dự phòng sốt xuất huyết Dengue

2.2.3. Chi phí của các nhóm can thiệp dự phòng sốt xuất huyết Dengue

2.2.4. Phân tích chi phí - hiệu quả

2.2.5. Chi phí tiết kiệm

2.2.6. Phân tích độ nhạy

3. BÀN LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. CHI PHÍ DỰ PHÒNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

3.2. CHI PHÍ - HIỆU QUẢ CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

3.3. Khuyến nghị với Chương trình dự phòng sốt xuất huyết

3.4. Khuyến nghị các nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Chi phí phòng ngừa sốt xuất huyết

Chi phí phòng ngừa sốt xuất huyết Dengue tại An Giang là một vấn đề quan trọng trong công tác y tế công cộng. Chi phí phòng ngừa sốt xuất huyết không chỉ bao gồm chi phí cho các biện pháp can thiệp mà còn liên quan đến chi phí điều trị khi dịch bệnh bùng phát. Theo nghiên cứu, tổng chi phí cho các biện pháp dự phòng bao gồm chi phí cho truyền thông, phun hóa chất, và các hoạt động cộng tác viên. Việc phân tích chi phí này giúp xác định được mức độ hiệu quả của từng biện pháp, từ đó đưa ra quyết định hợp lý trong việc phân bổ ngân sách cho công tác phòng chống dịch bệnh. Một nghiên cứu cho thấy rằng, chi phí cho các biện pháp dự phòng có thể tiết kiệm được chi phí điều trị trong tương lai, giảm thiểu gánh nặng cho hệ thống y tế.

1.1. Các biện pháp dự phòng sốt xuất huyết

Các biện pháp dự phòng sốt xuất huyết Dengue tại An Giang bao gồm phun hóa chất, giáo dục sức khỏe, và hoạt động của cộng tác viên. Biện pháp dự phòng sốt xuất huyết được triển khai nhằm giảm thiểu sự lây lan của virus Dengue. Phun hóa chất là một trong những biện pháp hiệu quả nhất, giúp tiêu diệt muỗi Aedes, vật chủ trung gian truyền bệnh. Bên cạnh đó, giáo dục sức khỏe cho cộng đồng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người dân. Nghiên cứu cho thấy rằng, việc kết hợp nhiều biện pháp sẽ mang lại hiệu quả cao hơn trong việc phòng ngừa dịch bệnh.

II. Hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa

Hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa sốt xuất huyết Dengue tại An Giang được đánh giá thông qua phân tích chi phí - hiệu quả. Hiệu quả biện pháp phòng ngừa không chỉ được đo bằng số ca mắc bệnh giảm mà còn bằng chi phí tiết kiệm được từ việc giảm thiểu số ca nhập viện. Nghiên cứu cho thấy rằng, các biện pháp như phun hóa chất và hoạt động của cộng tác viên đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh. Một số liệu cho thấy, mỗi ca bệnh được ngăn ngừa có thể tiết kiệm được hàng triệu đồng chi phí điều trị. Điều này chứng tỏ rằng, đầu tư vào các biện pháp phòng ngừa là cần thiết và mang lại lợi ích kinh tế cho xã hội.

2.1. Phân tích chi phí hiệu quả

Phân tích chi phí - hiệu quả của các biện pháp dự phòng sốt xuất huyết Dengue cho thấy rằng, các biện pháp có chi phí thấp nhưng hiệu quả cao nên được ưu tiên. Phân tích chi phí - hiệu quả giúp xác định được biện pháp nào mang lại lợi ích tốt nhất cho cộng đồng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc đầu tư vào các hoạt động giáo dục sức khỏe và phun hóa chất chủ động có thể mang lại hiệu quả cao hơn so với các biện pháp khác. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu số ca mắc bệnh mà còn tiết kiệm chi phí cho hệ thống y tế.

III. Tình hình sốt xuất huyết tại An Giang

Tình hình sốt xuất huyết Dengue tại An Giang đang diễn biến phức tạp với nhiều ca mắc mới hàng năm. Tình hình sốt xuất huyết tại An Giang cho thấy sự gia tăng đáng kể trong những năm gần đây, đặc biệt là trong mùa mưa. Các biện pháp dự phòng đã được triển khai nhưng vẫn chưa đủ để kiểm soát dịch bệnh. Nghiên cứu chỉ ra rằng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan y tế và cộng đồng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa. Việc theo dõi và đánh giá tình hình dịch bệnh thường xuyên là rất cần thiết để có những biện pháp can thiệp kịp thời.

3.1. Gánh nặng kinh tế do sốt xuất huyết

Gánh nặng kinh tế do sốt xuất huyết Dengue tại An Giang là một vấn đề nghiêm trọng. Gánh nặng kinh tế do sốt xuất huyết không chỉ đến từ chi phí điều trị mà còn từ việc mất năng suất lao động. Nghiên cứu cho thấy, mỗi ca mắc bệnh không chỉ tốn kém chi phí điều trị mà còn ảnh hưởng đến thu nhập của gia đình và xã hội. Do đó, việc đầu tư vào các biện pháp phòng ngừa không chỉ giúp giảm thiểu số ca mắc mà còn góp phần giảm gánh nặng kinh tế cho cộng đồng.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE 1. Đặc điểm bệnh sốt xuất huyết Dengue Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây ra, bệnh cảnh lâm sàng chủ yếu là sốt và xuất huyết, bệnh có thể tiến triển nặng gây tử vong. Bệnh được ghi nhận ở cả người lớn và trẻ em, ở cả thành thị và nông thôn, lây truyền từ người này sang người khác qua trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes, bệnh có thể gây ra các vụ dịch lớn [4], [11], [58].

Vi rút Dengue thuộc nhóm Flavivirus (Arbovirus nhóm B), có 4 tuýp là DEN1, DEN2, DEN3 và DEN4 [4], [8], [11], [36], [82]. Vi rút Dengue có vỏ ARN có nhiều kháng nguyên, có những kháng nguyên đặc hiệu của tuýp, có những kháng nguyên chung của phân nhóm, nên cả 4 tuýp có phản ứng chéo với nhau tuy nhiên không đủ để tạo miễn dịch phòng bệnh. Một người có thể mắc SXHD nhiều lần với các tuýp vi rút khác nhau, những lần mắc sau bệnh thường nặng hơn do ảnh hưởng của các phức hợp miễn dịch chéo [11], [78], [82]. Tại Việt Nam, có lưu hành của cả 4 tuýp vi rút, phổ biến là tuýp DEN1 và DEN2, tuy nhiên cũng có giai đoạn tuýp DEN3 và DEN4 tăng cao ở một số khu vực [19], [23], [25].

Khi có thay đổi sự lưu hành của tuýp vi rút dịch bệnh rất dễ bùng phát nếu cộng đồng chưa có miễn dịch với tuýp vi rút này [11], [96]. Nguồn bệnh SXHD là người mang vi rút Dengue, đặc biệt là những người mắc bệnh ở thể nhẹ hoặc người nhiễm vi rút mà không phát bệnh đóng một vai trò quan trọng trong việc lây lan dịch bệnh, bởi vì những người này vẫn đi lại được, họ có thể di chuyển và mang vi rút từ vùng này sang vùng khác. Thời gian có thể lây truyền của bệnh là từ trước khi người mắc phát bệnh 01 ngày đến 6-7 ngày sau khi phát bệnh [133]. Muỗi Aedes truyền bệnh SXHD gồm có Aedes aegypti và Aedes albopictus trong đó Ae.

aegypti là véc tơ chủ yếu. Vi rút được truyền qua vết đốt của muỗi [4].aegypti là loài hoạt động ban ngày, muỗi cái Ae.aegypti có hai kỳ hoạt 5 động hút máu chủ yếu, vào buổi sáng sớm khi bình minh và trong vòng vài giờ trước khi trời tối. Tuy nhiên, chúng cũng có thể vẫn hút máu vào tất cả các giờ trong ngày và thậm chí cả ban đêm trong buồng có đèn sáng, nhưng ở mức độ thấp. Sau khi hút máu người nhiễm vi rút Dengue, thời gian cần thiết để cho vi rút phát triển trong muỗi là từ 8 -10 ngày (vi rút nhân lên trong tuyến nước bọt).

Sau đó muỗi trở thành muỗi nhiễm vi rút và có thể truyền vi rút Dengue cho người khác khi hút máu [11], [133]. Người bị nhiễm vi rút Dengue có thể không có triệu chứng, hoặc chỉ có biểu hiện nhẹ như một trường hợp sốt không rõ nguyên nhân (hội chứng nhiễm vi rút), trường hợp nặng hơn có biểu hiện sốt cao đột ngột, xuất huyết dưới da, xuất huyết nội tạng, nặng hơn có thể có suy đa phủ tạng, sốc. Biểu hiện lâm sàng tùy theo tuổi, tình trạng của hệ thống miễn dịch và tùy theo chủng vi rút. Bệnh thường diễn biến qua ba giai đoạn: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục.

Những thay đổi chính về mặt sinh lý bệnh là rối loạn đông máu và thoát huyết tương, biểu hiện sớm của những rối loạn này là giảm tiểu cầu và cô đặc máu [7], [16], [11], [17], [22], [78], [133]. Từ năm 2009, Tổ chức Y tế thế giới phân SXHD làm 3 loại, đó là sốt xuất huyết Dengue, sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo và sốt xuất huyết Dengue nặng. Trong đó Sốt xuất huyết Dengue: Có biểu hiện sốt cao đột ngột, liên tục từ 2- 7 ngày và có ít nhất 2 trong các dấu hiệu: Biểu hiện xuất huyết (như nghiệm pháp dây thắt dương tính, chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam), nhức đầu, chán ăn, buồn nôn, da xung huyết, phát ban, đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt. Cận lâm sàng: Hematocrit bình thường (không có biểu hiện cô đặc máu) hoặc tăng, số lượng tiểu cầu bình thường hoặc hơi giảm, số lượng bạch cầu thường giảm; Sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo: Bao gồm các triệu chứng lâm sàng của sốt xuất huyết Dengue, kèm theo các dấu hiệu cảnh báo như vật vã, li bì, đau bụng vùng gan hoặc ấn đau vùng gan, gan to trên 2 cm, nôn nhiều, xuất huyết niêm mạc, tiểu ít.

Xét nghiệm máu: Hematocrit tăng cao, tiểu cầu giảm nhanh chóng; Sốt xuất huyết Dengue nặng: Người bệnh có một trong các biểu hiện như thoát huyết tương nặng dẫn đến sốc giảm thể tích (sốc sốt xuất huyết Dengue), ứ dịch ở khoang 6 màng phổi và ổ bụng nhiều, xuất huyết nặng, suy tạng. Sốc sốt xuất huyết Dengue thưởng xảy ra vào ngày thứ 3-7 của bệnh, biểu hiện bởi các triệu chứng như vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, da lạnh ẩm, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20 mmHg) hoặc tụt huyết áp hoặc không đo được huyết áp, tiểu ít [7], [9], [133]. Chẩn đoán xác định SXHD bằng xét nghiệm huyết thanh, xét nghiệm sinh học phân tử (RT-PCR) hoặc nuôi cấy phân lập vi rút. Có 2 loại xét nghiệm huyết thanh thường làm là dùng test nhanh tìm kháng nguyên NS1 trong 5 ngày đầu của bệnh hoặc tìm kháng thể IgM từ ngày thứ 5 trở đi và xét nghiệm MAC - ELISA tìm kháng thể IgM (xét nghiệm từ ngày thứ năm của bệnh) hoặc tìm kháng thể IgG (lấy máu 2 lần cách nhau 1 tuần tìm động lực kháng thể) [9], [7], [61], [133].

Phần lớn các trường hợp mắc bệnh được điều trị ngoại trú và theo dõi tại y tế cơ sở, chủ yếu là điều trị triệu chứng như hạ sốt, bù dịch sớm bằng đường uống. Đối với sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo, người bệnh được cho nhập viện điều trị bù dịch bằng đường truyền. Đối với sốt xuất huyết Dengue nặng, người bệnh phải được nhập viện điều trị cấp cứu. Điều trị sốc bằng các dung dịch Ringer lactat, dung dịch mặn đẳng trương (NaCl 0,9%), dung dịch cao phân tử.

Điều trị xuất huyết Dengue nặng bằng truyền máu và các chế phẩm máu, truyền tiểu cầu, truyền plasma tươi. Điều trị suy tạng nặng, lọc máu ngoài cơ thể, thở oxy và sử dụng các thuốc vận mạch [7], [9], [133], [27]. Phân bố dịch tễ của bệnh sốt xuất huyết Dengue 1. Trên thế giới Trước năm 1970, dịch SXHD chỉ lưu hành nặng ở 9 quốc gia, nhưng sau đó đã lan rộng một cách nhanh chóng ra những quốc gia và vùng lãnh thổ mới, với sự gia tăng cả về số mắc và vùng địa lý.

Trong 50 năm gần đây số mắc SXHD đã tăng gấp 30 lần [133]. Số quốc gia và vùng lãnh thổ báo cáo có SXHD lưu hành đến nay đã là 128, với khoảng 3,9 tỷ người sống trong vùng nguy cơ [44], [45]. Ước tính mỗi năm có 390 triệu người nhiễm bệnh trong đó có khoảng 96 triệu người có biểu hiện lâm sàng rõ ràng [43]. Số liệu ước tính này chưa bao gồm hai quốc gia có dân số lớn 7 (chiếm gần 1/3 dân số thế giới) là Trung Quốc và Ấn Độ và là hai quốc gia có sự lưu hành của SXHD nhưng thiếu số liệu báo cáo cho WHO.

Năm 2005, Tổ chức Y tế thế giới nhận định SXHD là một trong những căn bệnh do muỗi truyền có tốc độ lan rộng nhanh nhất và là một vấn đề y tế công cộng cần quan tâm, đặc biệt tại các nước châu Phi, châu Mỹ-La tinh, Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, trong đó khu vực châu Mỹ - La tinh, khu vực Đông Nam châu Á và Tây Thái Bình Dương là những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Tại Việt Nam Năm 1958, Việt Nam ghi nhận vụ dịch sốt xuất huyết đầu tiên tại Hà Nội. Năm 1963, vụ dịch sốt xuất huyết đầu tiên xác định có mầm bệnh vi rút Dengue ở Việt Nam được ghi nhận tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, từ đó dịch bệnh SXHD tăng dần và lan rộng ra cả nước. Đến nay trừ một số tỉnh miền núi phía Bắc có khí hậu lạnh không phù hợp cho muỗi truyền bệnh phát triển, còn lại hầu hết các tỉnh thành phố đã có dịch lưu hành, đặc biệt các tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Nam, miền Trung và Tây Nguyên [4], [11].

Dịch bùng phát nhiều vào mùa mưa, đỉnh dịch rơi vào các tháng 9-11 hàng năm [8], [9], [14], [21], [15]. Trung bình mỗi năm cả nước ghi nhận từ 50-100 nghìn trường hợp mắc, gần 100 trường hợp tử vong. Có những năm bùng phát dịch lớn, như năm 1987 với 345.517 trường hợp mắc, trong đó có 1.566 trường hợp tử vong, năm 1998 có 234.902 trường hợp mắc, trong đó có 377 trường hợp tử vong. Hiện nay, SXHD là một trong mười bệnh truyền nhiễm có số mắc và tử vong cao nhất [5].

CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE 1. Trên thế giới Sốt xuất huyết Dengue chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vắc xin phòng SXHD mới được sử dụng hạn chế ở một vài quốc, hiện chưa có đầy đủ bằng chứng về chi phí và hiệu quả khi sử dụng rộng rãi vắc xin trong cộng đồng. Cho nên biện pháp dự phòng hiệu quả hiện nay vẫn là kiểm soát véc tơ truyền bệnh. Trong lịch sử, những nỗ lực để kiểm soát véc tơ bằng hóa chất vào những năm 1970 tại khu vực châu Mỹ đã làm giảm đáng kể mật độ muỗi Ae.

Aegypti, tuy nhiên, không lâu sau đó quần thể muỗi lại tiếp tục tái lập. Ngày nay, các quốc gia thường phối hợp nhiều biện pháp kiểm soát véc tơ với nhau nhằm khống chế và duy trì mật độ véc tơ ở mức thấp nhất. Các biện pháp chủ yếu nhằm mục đích xua muỗi, diệt muỗi và phòng muỗi đốt [133]. Biện pháp quản lý môi trường Mục đích của biện pháp quản lý môi trường là nhằm ngăn ngừa hoặc giảm thiểu sự sinh sản, phát triển và lan truyền của muỗi truyền bệnh, cũng như sự tiếp xúc của con người với muỗi truyền bệnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chi Phí Hiệu Quả Của Các Biện Pháp Dự Phòng Sốt Xuất Huyết Dengue Tại An Giang" phân tích chi tiết về hiệu quả kinh tế của các biện pháp phòng ngừa sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh An Giang. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về chi phí và lợi ích của các biện pháp như kiểm soát vector, giáo dục cộng đồng và tiêm phòng, giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng. Đây là nguồn thông tin quý giá cho những ai quan tâm đến y tế công cộng và quản lý dịch bệnh.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu y tế liên quan, bạn có thể tham khảo Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở trung tâm y tế huyện giồng riềng tỉnh kiên giang năm 2021, nghiên cứu về hiệu quả điều trị bệnh mãn tính. Ngoài ra, Khảo sát nhu cầu tư vấn sử dụng thuốc của người bệnh điều trị ngoại trú tại bệnh viện đại học y hà nội năm 2023 cung cấp thông tin hữu ích về quản lý sử dụng thuốc. Cuối cùng, Nghiên cứu tình hình thai to và các yếu tố liên quan ở các sản phụ tại bệnh viện phụ sản TP Cần Thơ năm 2014-2015 là tài liệu tham khảo sâu hơn về sức khỏe sản khoa. Hãy khám phá để có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề y tế hiện nay.