Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ 1. Khái niệm về chế độ thi hành án phạt tù 1. Khái niệm về thi hành án phạt tù Việc làm rõ khái niệm về thi hành án phạt tù có ý nghĩa quan trọng ở cả bình diện lý luận lẫn thực tiễn trong việc nghiên cứu chế độ thi hành án phạt tù ở Việt Nam hiện nay. Là một hoạt động độc lập mang tính quyền lực nhà nước nhằm thực hiện bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành của Tòa án, thi hành án phạt tù liên quan trực tiếp đến bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân.
Vì thế, kể từ khi ra đời cho tới nay, Nhà nước ta rất quan tâm đến việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động thi hành án phạt tù. Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động thi hành án phạt tù ở Việt Nam gắn liền với quá trình xây dựng, phát triển của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau, pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động thi hành án phạt tù đều có những thay đổi cho phù hợp với nhiệm vụ chính trị và yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống tội phạm. Cùng với sự thay đổi, điều chỉnh về tổ chức và hoạt động, khái niệm về thi hành án phạt tù ngày càng được hoàn thiện hơn.
Theo Sắc lệnh số 150-SL ngày 7/11/1950 về tổ chức trại giam do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành thì thi hành án phạt tù là việc “giam giữ phạm nhân trong các trại giam để trừng trị và giáo hóa”. Đây là một khái niệm có phạm vi hạn hẹp, mới chỉ nêu lên được bản chất hoạt động chứ chưa nêu được phạm vi tác động rộng lớn của các chủ thể được giao nhiệm vụ thi hành án phạt tù với các nội dung hoạt 9 động rất đa dạng, phong phú của các chủ thể đó. Hơn nữa, pháp luật thời kỳ này còn ghi nhận phạm nhân bao gồm cả người bị kết án tù, người bị quyết nghị đưa đi an trí, người bị bắt, giam, giữ phục vụ yêu cầu điều tra, thẩm cứu, người bị tập trung giáo dục cải tạo. Quan niệm này được kéo dài đến năm 1993, khi Hội đồng Nhà nước (nay là Ủy ban thường vụ Quốc hội) ban hành Pháp lệnh thi hành án phạt tù.
Theo quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh này thì thi hành án phạt tù được hiểu là “Buộc những người bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân chấp hành án tại trại giam nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành người lương thiện” [38, tr. So với khái niệm được đưa ra tại Sắc lệnh số 150-SL ngày 7/11/1950, khái niệm này đã thể hiện rõ hơn bản chất hoạt động, phạm vi tác động, các chủ thể có trách nhiệm và phạm vi tác động, nội dung hoạt động của các chủ thể đó trong thi hành án phạt tù. Đến năm 2010, Quốc hội thông qua Luật Thi hành án hình sự, theo đó, thi hành án phạt tù được hiểu là “việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội” [34, tr. Với cách hiểu này, khái niệm thi hành án phạt tù đã có bước phát triển đầy đủ hơn, nêu rõ được các chủ thể có trách nhiệm (cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật thi hành án hình sự), đồng thời cũng thể hiện đầy đủ hơn bản chất, nội dung hoạt động, phạm vi, mục đích tác động của các chủ thể đó (buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội).
Tuy nhiên, trên thực tế, với ý nghĩa là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, thi hành án phạt tù còn có mối quan hệ hữu cơ với giai đoạn, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Nếu mục đích của thi hành án phạt tù không đạt được thì toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trước đó sẽ không có giá trị thực tiễn. Mặt khác với bản chất là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm thực hiện bản án, quyết định có hiệu lực 10 pháp luật và đã có quyết định thi hành của Tòa án bao gồm: bản án hoặc một phần bản án của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; bản án của Tòa án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quyết định của Tòa án Việt Nam tiếp nhận người đang chấp hành hình phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và đã có quyết định thi hành; quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài cho thấy, thi hành án phạt tù là một hoạt động khó khăn, phức tạp vì nó không những liên quan đến quyền con người, quyền, nghĩa vụ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp, pháp luật về thi hành án mà còn liên quan đến sinh mạng chính trị và quyền, lợi ích của phạm nhân (người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân), do đó, thi hành án phạt tù còn bao gồm toàn bộ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền (cơ quan quản lý thi hành án hình sự; cơ quan thi hành án hình sự, trại giam, trại tạm giam) trong việc quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân theo thời hạn được quy định trong bản án, quyết định của Tòa án nhằm đưa lại cho xã hội những người không còn nguy hiểm cho xã hội và có ích. Nghiên cứu đối tượng thi hành án phạt tù, chúng ta thấy đối tượng thi hành án phạt tù bao gồm là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân.
Trong hệ thống hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015, tù có thời hạn, tù chung thân là các hình phạt mang tính cưỡng chế nghiêm khắc. Người bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân bị cách ly khỏi xã hội, bị quản lý, giam giữ trong một môi trường tách biệt và chịu sự điều chỉnh của những quy định pháp luật rất chặt chẽ, nghiêm ngặt để giáo dục, cải tạo thành người lương thiện, có ích cho xã 11 hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa. “Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm tội có mức tối thiểu là 3 tháng và mức tối đa là 20 năm [32, tr.30]; còn “Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình” [32, tr.
Như vậy, tù chung thân khác tù có thời hạn ở chỗ tù chung thân có thể tước tự do của người bị kết án tù đến lúc chết nếu không được giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, hoặc được đại xá, đặc xá. Thi hành án phạt tù là buộc những người bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân phải chấp hành hình phạt tại trại giam. Điểm e khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội. Trại giam là công cụ chuyên chính trực tiếp của Nhà nước.
Bất kỳ Nhà nước của giai cấp nào cũng tổ chức các trại giam để quản lý, giam giữ, cách ly những người phạm tội, những kẻ chống đối mà giai cấp thống trị cho là “bất lợi” nếu để họ tự do ở ngoài xã hội. Xét về mặt tổ chức thì trại giam là một loại cơ quan nhà nước đặc thù, có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo người bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân trong suốt cả thời hạn phạt tù mà Tòa án đã tuyên. Dưới chế độ ta, trại giam là cơ quan thi hành án phạt tù có nhiệm vụ, quyền hạn tiếp nhận, tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo người bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân trở thành người có ích cho xã hội. Thi hành án phạt tù còn nhằm mục đích giáo dục người bị kết án tù trở thành người có ích cho xã hội.
Điều này thể hiện tính nhân đạo, bản chất ưu việt trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Xuất phát từ quan 12 niệm trong xã hội không có người phạm tội bẩm sinh mà chỉ có những người phạm tội do những điều kiện, hoàn cảnh nhất định, Đảng, Nhà nước ta cho rằng việc giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội là việc hoàn toàn có khả năng làm được. Cũng cần nói thêm rằng, các quy định của pháp luật về thi hành án phạt tù không những chỉ khẳng định nhiệm vụ, quy định cách thức, phương thức hoạt động của các cơ quan có trách nhiệm trong việc thi hành bản án, quyết định phạt tù của Tòa án mà còn quy định trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình người bị kết án tù và công dân trong công tác thi hành án và giúp đỡ người đã chấp hành xong hình phạt tù tạo lập cuộc sống bình thường. Bên cạnh đó, pháp luật về thi hành án phạt tù còn quy định quyền và nghĩa vụ của người bị kết án phạt tù trong hoạt động thi hành án.
Một khi bản án, quyết định phạt tù của Tòa án có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành án, trong thời hạn 7 ngày, tự thân người bị kết án tù đang tại ngoại phải có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để thi hành án theo quy định của pháp luật.