Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Gia đình là tế bào của xã hội, được thiết lập trên nền tảng hôn nhân và thực hiện đồng thời nhiều chức năng, trong đó chức năng kinh tế giữ vai trò bảo đảm sự tồn tại, phát triển của gia đình cũng như trật tự xã hội. Trong đời sống hôn nhân, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là cơ sở vật chất bảo đảm đời sống chung, nuôi dưỡng con cái và thực hiện các giao dịch dân sự, thương mại thường nhật. Khi quan hệ hôn nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân hoặc khi ly hôn, các tranh chấp về tài sản luôn chiếm tỷ lệ lớn, diễn biến phức tạp và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các bên cùng người thứ ba ngay tình. Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã có nhiều bước tiến so với các văn bản luật trước đây, thực tiễn xét xử tại Tòa án cho thấy hệ thống quy phạm hiện hành vẫn còn tồn tại những khoảng trống, quy định mang tính định tính, thiếu đồng bộ về chế độ tài sản theo luật định.

Khóa luận cử nhân luật học của tác giả Hoàng Quỳnh Uyên được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nhiệm vụ 1: Làm rõ những vấn đề lý luận nền tảng và hệ thống hóa các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.
  2. Nhiệm vụ 2: Tìm hiểu, khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua hoạt động xét xử tranh chấp tài sản tại Tòa án nhân dân các cấp và hoạt động công chứng, chứng thực tại các tổ chức hành nghề công chứng nhằm đánh giá những điểm tiến bộ cùng các bất cập, vướng mắc phát sinh.
  3. Nhiệm vụ 3: Đề xuất các giải pháp pháp lý và kiến nghị lập pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn xét xử.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định; các quy định của pháp luật thực định Việt Nam; pháp luật so sánh của một số quốc gia (Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Vương quốc Thái Lan, Nhật Bản); cùng các bất cập trong áp dụng pháp luật tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các công dân Việt Nam với nhau, không đi sâu vào quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng lập luận dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam và các công trình khoa học pháp lý tiêu biểu:

Nhóm cơ sở pháp lý và lý thuyết Tên văn bản / Công trình nghiên cứu cụ thể
Văn bản pháp luật Việt Nam - Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 1986, 2000, 2014)
- Bộ luật Dân sự (năm 2015)
- Luật Đất đai (năm 2013), Luật Doanh nghiệp, Luật Tố tụng Dân sự
- Nghị định 126/2014/NĐ-CP, Nghị định 70/2001/NĐ-CP
- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP
Pháp luật so sánh quốc tế - Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (Điều 1401, 1402, 1404, 1443)
- Bộ luật Dân sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Điều 1062, 1066)
- Bộ luật Dân sự và Thương mại Vương quốc Thái Lan (Điều 1474, 1492, 1598)
Giáo trình và sách chuyên khảo - Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam (ĐH Luật TP.HCM, ĐH Luật Hà Nội)
- Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình (tập 2) (GS.TS. Nguyễn Ngọc Điện, 2021)
- Sách chuyên khảo Pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng (Nguyễn Ngọc Điện, Đoàn Thị Phương Diệp, 2018)
- Sách tình huống (Bình luận bản án) Luật Hôn nhân và gia đình (ĐH Luật TP.HCM, 2018)

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp lịch sử: Khảo cứu tiến trình phát triển của chế định tài sản vợ chồng qua các thời kỳ lập pháp (Luật HNGĐ 1986, 2000 đến 2014) để thấy rõ sự kế thừa và thay đổi của chính sách pháp luật.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của Luật HNGĐ Việt Nam với pháp luật dân sự các nước Pháp, Trung Quốc, Thái Lan về xác định tài sản chung, tài sản riêng và cơ chế chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp và bình luận bản án: Phân tích quy phạm kết hợp trích xuất, bình luận các bản án phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm thực tế của Tòa án nhân dân các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định

Chương này tập trung hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản và khung pháp lý thực định điều chỉnh chế độ tài sản pháp định của vợ chồng:

  1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý:

    • Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng (xác lập tài sản chung, tài sản riêng; quyền, nghĩa vụ quản lý, định đoạt và phân chia tài sản) được áp dụng khi hai bên không xác lập thỏa thuận hoặc thỏa thuận bị vô hiệu.
    • Ba đặc điểm cốt lõi gồm: (i) Căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt gắn liền với sự phát sinh và chấm dứt của quan hệ hôn nhân hợp pháp; (ii) Chủ thể bắt buộc phải là vợ chồng hợp pháp; (iii) Chịu sự điều chỉnh phối hợp giữa Luật Hôn nhân và Gia đình với Bộ luật Dân sự.
  2. Căn cứ xác định khối tài sản:

    • Tài sản chung (Điều 33 Luật HNGĐ 2014): Xác định dựa trên thời điểm phát sinh (tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, thu nhập lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, thu nhập hợp pháp khác theo Điều 11 NĐ 126/2014); nguồn gốc (được tặng cho chung, thừa kế chung theo di chúc); ý chí nhập tài sản của vợ chồng; và nguyên tắc suy đoán pháp lý (khoản 3 Điều 33 — tài sản không có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng thì coi là tài sản chung).
    • Tài sản riêng (Điều 43 Luật HNGĐ 2014): Tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu và tài sản hình thành từ tài sản riêng.
  3. Cơ chế quản lý, định đoạt và phân chia tài sản:

    • Vợ chồng bình đẳng trong quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung (Điều 29). Lao động nội trợ trong gia đình được coi là lao động có thu nhập.
    • Phân tích cơ chế chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38, 39, 40, 42) về hiệu lực, hậu quả pháp lý đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh sau khi chia, bảo đảm nghĩa vụ với bên thứ ba và các trường hợp thỏa thuận chia tài sản bị vô hiệu do trốn tránh nghĩa vụ tài chính.
    • Nguyên tắc chia tài sản khi chấm dứt hôn nhân (do ly hôn hoặc do một bên chết theo Điều 59, Điều 66), phân tích 4 căn cứ định lượng tỷ lệ tài sản theo khoản 2 Điều 59.

Chương 2: Bất cập trong quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định và kiến nghị hoàn thiện

Chương 2 chỉ ra các vướng mắc qua thực tiễn áp dụng pháp luật và luận giải các giải pháp hoàn thiện thông qua các nhóm vấn đề:

  1. Bất cập về căn cứ xác định tài sản và giao dịch của một bên:

    • Tài sản tặng cho sính lễ và tặng cho bất động sản: Phong tục trao vàng cưới, sính lễ bằng lời nói không nêu rõ tặng chung hay riêng; việc cha mẹ cho con đất ở nhưng không lập hợp đồng công chứng dẫn đến tranh chấp gay gắt khi ly hôn.
    • Nhập tài sản riêng vào tài sản chung: Hình thức thỏa thuận chưa có quy định biểu mẫu thống nhất. Bản án 29/2018/HNGĐ-PT (TAND tỉnh Kiên Giang) cho thấy việc cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc sửa chữa nhà cũ được Tòa suy đoán là hành vi tự nguyện nhập tài sản riêng vào tài sản chung dù có văn bản tặng cho riêng ban đầu.
    • Giao dịch phục vụ nhu cầu thiết yếu: Khái niệm "nhu cầu thiết yếu" (khoản 20 Điều 3) còn mang tính định tính. Bản án 05/2022/HNGĐ-PT (TAND tỉnh Hậu Giang) công nhận việc người vợ bán vàng cưới để chữa bệnh cho con và trang trải sinh hoạt là chi trả cho nhu cầu thiết yếu, không còn tài sản chung để chia.
  2. Bất cập về phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:

    • Theo khoản 1 Điều 40 Luật HNGĐ 2014, sau khi chia tài sản chung, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng trở thành tài sản riêng. Điều này dẫn đến nguy cơ nếu hoa lợi, lợi tức đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì người nắm giữ có toàn quyền định đoạt, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bên kia và con cái (dẫn chứng từ Bản án số 08/2019/HNGĐ-PT của TAND tỉnh Tiền Giang).
  3. Bất cập trong phân chia tài sản khi ly hôn:

    • Đánh giá công sức đóng góp: TTLT 01/2016 quy định định tính, thiếu bảng tiêu chí định lượng giá trị đóng góp giữa lao động nội trợ và lao động sản xuất kinh doanh tạo ra thặng dư lớn. Bản án 09/2022/HNGĐ-PT (TAND tỉnh Bình Dương) về thửa đất số 1390 (25 phòng trọ và 1 ki-ốt) đã chia 50% giá trị xây dựng và 40% thu nhập thuê phòng cho người vợ dựa trên công sức quản lý và chăm sóc con cái.
    • Xem xét yếu tố lỗi: Việc đưa lỗi nhân thân (ngoại tình, bạo lực gia đình) vào làm căn cứ giảm tỷ lệ tài sản theo Điều 59 và TTLT 01/2016 là rất khó định lượng mức độ trừ tài sản. Bản án 10/2019/HNGĐ-PT (TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) xem xét hành vi ngoại tình có con riêng của người chồng để giữ nguyên tỷ lệ 50% cho người vợ đối với căn nhà gắn liền với đất thừa kế.
    • Đưa tài sản chung vào kinh doanh: Quyết định Giám đốc thẩm 01/2021/HNGĐ-GĐT vụ án Tập đoàn Trung Nguyên (ông Đặng Lê Nguyên Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo) cho thấy sự xung đột giữa Luật HNGĐ và Luật Doanh nghiệp khi Tòa án chia bằng giá trị cổ phần (giao cổ phần cho ông Vũ nắm giữ và hoàn lại tiền cho bà Thảo 40% giá trị) thay vì chia bằng hiện vật cổ phần, đồng thời việc định giá tài sản vô hình (thương hiệu, lợi thế thương mại) gặp nhiều khó khăn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các vướng mắc thực tiễn và đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật cụ thể:

Lĩnh vực bất cập Thực trạng vướng mắc Kiến nghị hoàn thiện của tác giả
Quy chế hoa lợi, lợi tức sau chia tài sản chung Khoản 1 Điều 40 chuyển toàn bộ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng thành tài sản riêng của mỗi bên. Sửa đổi Khoản 1 Điều 40 Luật HNGĐ 2014: Quy định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng sau khi chia tài sản chung vẫn là tài sản chung nếu đó là nguồn sống duy nhất của gia đình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Thể thức nhập tài sản riêng Văn bản nhập tài sản riêng chưa có quy định thể thức rõ ràng; các cấp Tòa án xét xử thiếu thống nhất khi đánh giá việc đứng tên chung trên sổ đỏ. Xây dựng án lệ và quy định chi tiết: Ban hành án lệ chuẩn hóa hành vi pháp lý xác định ý chí nhập tài sản riêng vào tài sản chung; quy định rõ ràng về mặt hình thức và thủ tục công chứng, chứng thực văn bản thỏa thuận.
Xác định nhu cầu thiết yếu Định nghĩa tại khoản 20 Điều 3 còn định tính, phụ thuộc vào nhận định chủ quan của Thẩm phán. Bổ sung tiêu chí định lượng: Nhà làm luật cần ban hành văn bản giải thích cụ thể danh mục và hạn mức tài sản/chi phí được coi là "nhu cầu thiết yếu" tương ứng với điều kiện kinh tế từng thời kỳ.
Định lượng công sức đóng góp Quy định "ai đóng góp nhiều hơn được chia nhiều hơn" chưa có công thức tính toán và căn cứ khấu trừ. Bổ sung tiêu chuẩn định lượng: Xây dựng khung tiêu chí gồm nguồn gốc tài sản, tỷ lệ gia tăng giá trị, phân biệt giá trị thặng dư giữa lao động kinh doanh quy mô lớn với lao động gia đình thông thường.
Cơ chế xử lý yếu tố lỗi Khó đo lường mức độ thiệt hại tài sản đối với các lỗi vi phạm nghĩa vụ nhân thân (bạo lực, ngoại tình). Sửa đổi điểm d Khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ 2014: Điều chỉnh thành "...Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng"; chỉ khấu trừ tài sản đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ tài sản cụ thể (như tẩu tán, phá tán tài sản), đồng thời hiệu chỉnh nội dung hướng dẫn tại TTLT 01/2016.
Tài sản đưa vào doanh nghiệp Thiếu cơ chế phân chia tài sản giữa chủ doanh nghiệp tư nhân với vợ/chồng; vướng mắc định giá tài sản vô hình. Đồng bộ hóa pháp luật kinh doanh và hôn nhân: Ban hành hướng dẫn xử lý phần vốn góp, cổ phần, thương hiệu doanh nghiệp nhằm vừa bảo vệ quyền tài sản của vợ/chồng, vừa bảo đảm sự ổn định hoạt động của doanh nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi đề tài chỉ giới hạn khảo sát các quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với nhau theo pháp luật nội địa, chưa mở rộng phân tích các xung đột pháp luật và quy chế tài sản trong hôn nhân có yếu tố nước ngoài hoặc hôn nhân đồng giới thực tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp tài sản là tài sản số, tài sản mã hóa, quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, và cơ chế bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba trong các hợp đồng tín dụng phức tạp có liên quan đến chế độ tài sản vợ chồng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Tham khảo khung lý thuyết chuyên sâu về Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình cùng kỹ năng tổng hợp, trích dẫn bản án thực tiễn.
  • Thực tiễn xét xử và hành nghề luật sư: Cung cấp bức tranh đa chiều về các vụ án điển hình (vụ án chia nhà trọ tại Bình Dương, vụ tranh chấp Tập đoàn Trung Nguyên, vụ án nhập tài sản tại Kiên Giang...) và cơ sở lập luận đối với các tình huống tranh chấp công sức đóng góp, yếu tố lỗi và phân định tài sản đưa vào kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Luật HNGĐ 2014, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hay tài sản riêng? Theo khoản 1 Điều 33 Luật HNGĐ 2014, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung. Tuy nhiên, nếu vợ chồng đã thực hiện chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì theo khoản 1 Điều 40, phần hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng sau thời điểm chia sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ khi các bên có thỏa thuận khác.

2. Tiền trúng thưởng xổ số hoặc tài sản vô chủ nhặt được trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản gì? Căn cứ Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, tiền trúng số, tiền thưởng (trừ tiền thưởng gắn liền với danh hiệu nghề nghiệp, bằng khen riêng, công trình khoa học theo đơn hàng riêng) và tài sản vô chủ được xác lập quyền sở hữu trong thời kỳ hôn nhân được coi là "thu nhập hợp pháp khác" và đương nhiên thuộc khối tài sản chung của vợ chồng.

3. Tòa án áp dụng nguyên tắc nào khi vợ chồng không chứng minh được tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng? Theo quy định tại khoản 3 Điều 33 Luật HNGĐ 2014 (nguyên tắc suy đoán pháp lý), trong trường hợp có tranh chấp mà vợ hoặc chồng không đưa ra được chứng cứ chứng minh tài sản đó là tài sản riêng của mình thì tài sản đó đương nhiên được xác định là tài sản chung của vợ chồng.

4. Tại sao tác giả khóa luận kiến nghị sửa đổi quy định về yếu tố "lỗi" tại điểm d khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ 2014? Tác giả đề xuất chỉ nên xem xét lỗi vi phạm nghĩa vụ về tài sản (như phá tán, tẩu tán tài sản) thay vì cả lỗi nhân thân (ngoại tình, bạo lực gia đình). Lý do là vì các lỗi nhân thân rất khó để lượng hóa chính xác tỷ lệ phần trăm khấu trừ tài sản, trong khi hành vi phá tán tài sản có thể xác định được giá trị thiệt hại bằng số liệu cụ thể để cấn trừ trực tiếp khi phân chia.

5. Trong vụ án ly hôn giữa ông Đặng Lê Nguyên Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo, Tòa án đã giải quyết phân chia cổ phần tập đoàn như thế nào? Tòa án đã phân chia toàn bộ cổ phần và quyền điều hành doanh nghiệp cho ông Đặng Lê Nguyên Vũ nắm giữ, đồng thời buộc ông Vũ phải thanh toán lại bằng tiền mặt tương đương 40% giá trị cổ phần cho bà Lê Hoàng Diệp Thảo dựa trên công sức đóng góp của bà vào sự phát triển của công ty.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Hoàng Quỳnh Uyên đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và quy định thực định về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các bản án thực tế và đối chiếu pháp luật so sánh quốc tế, công trình đã chỉ rõ những bất cập về phân chia tài sản trong hôn nhân, xác định công sức đóng góp, yếu tố lỗi và xử lý tài sản trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các giải pháp lập pháp xác đáng nhằm hoàn thiện Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, góp phần bảo đảm sự công bằng và nâng cao hiệu quả xét xử trên thực tiễn.