CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận “CĐTSCVC theo thỏa thuận”, “Thỏa thuận tiền hôn nhân” hay “Hôn ước” là những thuật ngữ phổ biến và đã có mặt từ rất sớm ở các quốc gia trên thế giới. Đặc biệt pháp luật HN&GĐ ở các nước có nền kinh tế phát triển như các nước châu Âu, châu Mỹ, pháp luật các nước coi trọng quyền tự do của con người, quyền thương lượng và định đoạt tài sản của vợ chồng, nhất là trong giai đoạn hôn nhân của họ. Vì vậy CĐTSCVC theo thỏa thuận cũng được các quốc gia này ghi nhận từ rất sớm, tiêu biểu như pháp luật của Pháp (BLDS Cộng hòa Pháp năm 1804), Hoa Kỳ (có thể nói Tiểu bang California là tiểu bang công nhận đầu tiên chế độ này vào khoảng năm 1850)2.
Ngày nay, thì các quốc gia ở khu vực châu Á, nơi mà con người coi trọng văn hóa lễ nghi, sống thiên về truyền thống cộng đồng, quan hệ hôn nhân được xây dựng từ yếu tố tình cảm như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan hay Việt Nam pháp luật cũng đã ghi nhận chế độ này, việc công nhận CĐTSCVC theo thỏa thuận được xem như là bước tiến rất lớn, góp phần hoàn chỉnh chế độ tài sản. Từ khi bắt đầu có Luật HN&GĐ, tức là từ năm 1959 cho đến Luật HN&GĐ năm 1986 rồi đến Luật HN&GĐ năm 2000 được ban hành thì chỉ tồn tại một CĐTSCVC đó là CĐTSCVC theo luật định. Ví dụ theo Luật HN&GĐ năm 1959 quy định về chế độ tài sản là vợ và chồng có quyền như nhau đối với các tài sản và không có sự phân biệt tài sản đó được tạo thành trước hay sau khi hai bên đăng ký kết hôn3. Hay theo quy định về CĐTSCVC trong Luật HN&GĐ năm 1986 và năm 2000 là nếu trong thời gian hôn nhân các tài sản được vợ hoặc chồng tạo lập ra hoặc 2 Caroline Bermeo Newcombe (2011), “The Origin and Civil Law Foundation of the Community Property System, Why California Adopted It and Why Community Property Principles Benefit Women”, 11 U.
Gender & Class 1, tr. 3 Điều 15 Luật HN&GĐ năm 1959. 9 nhận tặng cho chung hoặc nhận thừa kế chung thì đó là tài sản chung của vợ chồng4 và có một điểm khác và mới hơn so với Luật HN&GĐ năm 1959 đó là vợ, chồng được quyền có tài sản riêng5, như trong trường hợp tài sản đó được vợ hoặc chồng tạo ra trước khi hai bên kết hôn thì đó là tài sản riêng của vợ hoặc của chồng mà không được tính đó là tài sản chung của hai vợ chồng như Luật HN&GĐ năm 1959. Tuy nhiên, dưới thời kỳ Pháp thuộc ở nước ta CĐTSCVC theo thỏa thuận đã xuất hiện với tên gọi là “hôn ước”, trong văn bản luật mà người Pháp ban hành áp dụng tại miền Bắc và miền Trung nước ta là Dân luật Bắc kì năm 19316 và Dân luật Trung kì năm 19367.
Theo Dân luật Bắc kỳ năm 1931 điều khoản pháp luật chỉ quy định đến tài sản của vợ chồng nếu vợ chồng không lập hôn ước riêng, như vậy nếu vợ chồng có lập hôn ước trước khi kết hôn và hôn ước đó hợp lệ thì về tài sản sẽ theo hôn ước đó8. Hay ở miền Nam, áp dụng trong giai đoạn trước ngày thống nhất đất nước là Bộ Dân luật năm 1972, thì pháp luật cũng quy định nếu vợ chồng không lập hôn ước thì tài sản của vợ chồng mới được áp dụng theo quy định của pháp luật9 và hôn ước cũng không được trái với quy định và đạo đức10, tuy nhiên theo quy định của Bộ Dân luật năm 1972 thì hôn ước không được sửa đổi hay bổ sung khi hai bên đã đăng ký kết hôn11. Hiện nay nhằm thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, bảo vệ và đảm bảo quyền và lợi ích của vợ chồng và người thứ ba12, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội ở nước ta, cũng như bắt kịp với xu hướng chung của pháp luật các nước trên thế giới, CĐTSCVC theo thỏa thuận được bổ sung trong Luật HN&GĐ năm 2014. CĐTSCVC theo thỏa thuận được ghi nhận thể hiện sự tiến bộ trong pháp luật HN&GĐ và toàn bộ nền kinh tế - xã hội Việt Nam.
4 Điều 14 Luật HN&GĐ năm 1986 và Khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000. 5 Điều 16 Luật HN&GĐ năm 1986 và Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000. 6 Được ban hành ngày 30 tháng 3 năm 1931 và có hiệu lực thi hành tại Bắc Kỳ từ ngày 01 tháng 7 năm 1931. 7 Được ban hành ngày 13 tháng 7 năm 1936 và có hiệu lực thi hành tại Trung Kỳ từ ngày 19 tháng 11 năm 1936.
8 Điều 104 Dân luật Bắc kỳ năm 1931. 9 Điều 144 Bộ Dân luật năm 1972. 10 Điều 145 Bộ Dân luật năm 1972. 11 Điều 147 Bộ Dân luật năm 1972.
12 Điều 3 Hiến pháp năm 2013. 10 Thực tiễn tại các tổ chức hành nghề công chứng (TCHNCC) thường gặp các câu hỏi liên quan về CĐTSCVC theo thỏa thuận như: “Vợ chồng tôi đã kết hôn và tôi muốn làm văn bản thỏa thuận tài sản đứng tên của ai thì là tài sản riêng của người đó được không?” hay “Vợ chồng tôi đã kết hôn muốn làm văn bản thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng được không?”. Trên các diễn đàn thường có những câu hỏi như: “Xin chào luật sư! Cho tôi hỏi về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là như thế nào? Và khi nào thì áp dụng được chế độ này? Tôi xin cảm ơn”13. Hay “Người yêu của tôi làm nghề buôn bán kinh doanh và tính ưa mạo hiểm.
Đã có lần anh ấy phải bán hết tài sản đi để trả nợ vì làm ăn thua lỗ. Sắp tới, chúng tôi sẽ kết hôn với nhau. Tuy nhiên, tôi vẫn luôn bị ám ảnh bởi câu chuyện phá sản của anh ấy nên trước khi kết hôn tôi muốn có bản thỏa thuận rõ ràng về chế độ tài sản giữa hai người. Xin hỏi, tôi có được quyền làm như vậy không?”14.
Những câu hỏi trên của các cặp vợ chồng cho thấy rằng họ không biết, biết rất ít hay hầu như không biết về chế độ thỏa thuận này. Trong pháp luật HN&GĐ, một trong những nội dung có ảnh hưởng cần được quy định và điều chỉnh đó là tài sản của vợ chồng. Sau khi kết hôn, tài sản của vợ chồng sẽ tạo thành một khối, sẽ rất phức tạp và gây ra nhiều khó khăn để phân định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng, cũng như quyền và lợi ích của các bên đối với khối tài sản đó. Khi đó, tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản được vợ chồng tạo ra trước thời kỳ hôn nhân, tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được tặng cho riêng, tặng cho chung và các hoa lợi lợi tức phát sinh từ các khối tài sản này… Do đó, xây dựng một khung pháp lý về CĐTSCVC theo thỏa thuận trong pháp luật HN&GĐ không những thể hiện được quyền tự do của nam, nữ mà có hướng đến giải quyết được những khó khăn trong tương lai như phân định rõ ràng tài sản của vợ chồng, tạo điều kiện thuận lợi khi giao dịch với bên thứ ba, nhằm hạn chế các tranh chấp giữa vợ và chồng hoặc với bên thứ ba và thỏa thuận này còn được xem là 13 Trang thông tin điện tử Toan Quoc Lawfirm, Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật hiện hành, https://luattoanquoc.com/toan-bo-quy-dinh-ve-van-ban-thoa-thuan-tai-san-truoc- hon-nhan-moi-nhat/, truy cập ngày 24/09/2022.
14 Trang thông tin điện tử TGS Lawfirm, Thỏa thuận phân chia tài sản trước khi kết hôn, https://congtyluattgs.vn/thoa-thuan-phan-chia-tai-san-truoc-khi-ket-hon/, truy cập ngày 24/09/2022. 11 luật riêng của vợ chồng để các cơ quan nhà nước có thẩm dựa vào thỏa thuận để quyền giải quyết tranh chấp xảy ra nếu có. Khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận Khái niệm về tài sản Tài sản có vai trò rất quan trọng và là trung tâm của mọi mối quan hệ trong đời sống xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Tài sản có một phạm trù rất rộng, không có giới hạn và ở mỗi góc nhìn khác nhau thì tài sản sẽ có những khái niệm khác nhau.
Theo Từ điển luật học (2006) định nghĩa: “Các vật có giá trị bằng tiền và đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác, bao gồm vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ có hoa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu như đã thỏa thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản”15. Và theo quy định của BLDS năm 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”16.
Khái niệm về tài sản của BLDS thì người làm luật định nghĩa tài sản bằng cách liệt kê các kết quả tìm kiếm trong thực tiễn17. Trong đó: “Vật là bộ phận của thế giới vật chất”, tồn tại khách quan mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình. Tuy nhiên, không phải tất cả bộ phận của thế giới vật chất đều được coi là vật, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật, nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật. Theo BLDS năm 2015 không chỉ có vật thực mới được coi là tài sản mà vật được hình thành trong tương lai cũng được xem là tài sản.
“Tiền suy cho cùng là một vật, nhưng không giống như các vật khác”18. Tiền là vật ngang giá chung để trao đổi hàng hóa và dịch vụ19. 15 Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội, tr.
17 Khoa luật Trường đại học Mở TP. Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình luật dân sự (Tái bản lần thứ 6 có chỉnh sửa bổ sung) tập 1, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr.
18 Khoa luật Trường đại học Mở TP. Hồ Chí Minh (2020), tlđd (17), tr. 19 Tiền, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, được sửa đổi lần cuối vào ngày 09 tháng 10 năm 2023, https://vi.org/wiki/Ti%E1%BB%81n, truy cập 09/10/2023.