đặt vấn đề về quan hệ giữa vợ chồng mà có đối tượng là tài sản không giống như trong một hệ thống luật được xây dựng dựa trên quyền sở hữu cá nhân. Ngày xưa, “toàn bộ tài sản trong gia đình là của gia đình và chính gia đình, chứ không phải cá nhân, là chủ thể của quan hệ pháp luật”9. Với tư cách là người chủ gia đình, người chồng có thể giao dịch tài sản chung của gia đình (vợ chồng) nhưng phải xuất phát vì lợi ích của gia đình, nếu làm tổn hại đến tài sản của gia đình thì người vợ có quyền phản đối. BLGL hình thành trên cơ sở kế thừa BLHĐ và pháp luật của Nhà Thanh (Trung Quốc) thời bấy giờ.
Tuy nhiên, BLGL lại nghiêng về chế độ phụ hệ, quy định cho phép người chồng có “toàn quyền” thực hiện đối với khối tài sản gia đình, người vợ nghiêng về hướng quản lý chứ không được định đoạt tài sản chung. Theo Điều 76 9 Nguyễn Ngọc Điện (2005), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình, Tập 2, tr 4. 16 BLGL thì trường hợp người “chồng chết trước thì người vợ được quyền quản lý và hưởng hoa lợi từ tài sản của người chồng”. Như vậy, BLGL và BLHĐ theo chế độ tài sản gia đình, toàn bộ tài sản mà vợ chồng có được từ trước khi kết hôn hoặc do vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng.
BLHĐ có tư tưởng tiên tiến về chế độ bình đẳng trong quản lý, định đoạt tài sản chung vợ chồng còn BLGL thì nghiên về người chồng, người vợ chỉ có quyền quản lý khối tài sản chung. Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc Lịch sử thời kỳ Pháp thuộc từ năm 1984 đến năm 1945 thực hiện chính sách chia để trị đối với đất nước ta, do đó chính sách pháp luật ở ba miền riêng biệt. Miền Bắc áp dụng “Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931”; miền Trung áp dụng “Hoài Việt Trung Kỳ Hộ luật năm 1935, gọi tắt là Hộ luật Trung Kỳ năm 1935”; miền Nam áp dụng “Giản yếu về lập pháp dân sự An Nam năm 1883, gọi tắt Giản yếu năm 1883”10. Bộ Dân luật Bắc kỳ được ban hành vào ngày 30/3/1931 có hiệu lực từ tháng 7/1931, thay thế cho BLGL.
Bộ Dân luật Bắc kỳ đã quy định mới về quan hệ tài sản giữa vợ chồng tại Dụ số 2 ban hành ngày 13/02/1935, đặc biệt là chế độ tài sản “khế ước hôn nhân”. Về quyền quản lý, định đoạt tài sản Dân luật Bắc kỳ quan tâm hơn về sự đồng thuận, khi định đoạt tài sản chung của vợ chồng thì phải dựa trên sự thống nhất ý kiến của vợ chồng, trừ trường hợp người chồng tự định đoạt nhằm mục đích phục vụ lợi ích chung của gia đình. Hộ luật Trung kỳ ban hành vào ngày 13/7/1936, có hiệu lực ngày 19/01/1937, có các quy định về quan hệ GD LQTSC của vợ chồng tại Quyển 1 Bộ luật, trong đó có nhiều nét tương đồng với Bộ Dân luật Bắc kỳ về quan hệ tài sản chung. Toàn bộ tài sản chung của vợ chồng phải được quản lý bởi cả hai vợ chồng và một trong hai bên vợ 10 Ngô Văn Thâu (chủ biên, 2005), Pháp luật về Hôn nhân và Gia đình trước và sau cách mạng tháng tám, Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội, tr 8.
17 chồng không thể tự mình định đoạt tài sản mà không có sự đồng ý một cách rõ ràng của bên còn lại. Đề cao lợi ích chung của gia đình, tại Điều 107 đoạn 2 Hộ luật Trung kỳ quy định “người chồng có thể định đoạt tài sản mà không có sự đồng ý của người vợ những tài sản là động sản và với điều kiện các giao dịch định đoạt này phải được thực hiện vì lợi ích chung của gia đình.” Giản yếu được ban hành vào năm 1983, bộ luật này được phỏng theo “Bộ Dân luật năm 1804 của Cộng hòa pháp”, xây dựng trên cơ sở các án lệ. Thời kỳ đầu, các án lệ của Nam Kỳ công nhận người vợ có của riêng và chế độ hôn nhân theo tục lệ là cộng đồng tài sản, nhưng sau đó các án lệ lại đổi hướng không công nhận quyền có tài sản riêng của người vợ, vì đề cao vị trí của người chồng, vợ chỉ có địa vị của một người con gái. Do công nhận chồng là chủ sở hữu tài sản của gia đình nên chồng có thể tự mình thực hiện các giao dịch, thu hoa lợi.
Nếu con nợ vay tiền của vợ thì có thể trả nợ đó cho người chồng. Ngược lại, người vợ không được ký kết hợp đồng một mình và người chồng có quyền khiếu nại phủ nhận hợp đồng đó. Do là chủ gia đình nên “người chồng có thể một mình ký kết giao dịch để chuyển dịch động sản và bất động sản”. Như vậy, trong thời kỳ Pháp thuộc hệ thống pháp luật ở ba miền được áp dụng bằng các bộ luật riêng biệt.
Tuy có đề cập vấn đề tôn trọng quyền quản lý, định đoạt tài sản chung của vợ chồng, quan tâm hơn yếu tố đồng thuận nhưng nhìn chung hệ thống pháp luật vẫn mang màu sắc của pháp luật Phong kiến, đề cao vai trò của người đàn ông trong gia đình có toàn quyền thực hiện các GD LQTSC của vợ chồng, người vợ được nghiên về việc quản lý tài sản. Từ năm 1945 đến nay 1. Giai đoạn 1945 - 1954 Cách mạng tháng Tám thành công khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, theo điều kiện lịch sử thời bấy giờ Nhà nước ta chưa thực hiện ngay một cách thống nhất quy định pháp luật nói chung và pháp luật về HN&GĐ nói riêng. Theo Sắc lệnh số 90 - SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà 18 đã cho phép áp dụng pháp luật cũ một cách chọn lọc, miễn sao không trái với lợi ích của chính thể Nhà nước và lợi ích của nhân dân.
Ngày 09/11/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước ta ra đời, Điều 9 Hiến pháp quy định “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên khẳng định quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Đồng thời là cơ sở pháp lý xác nhận quyền bình đẳng giữa vợ và chồng. Đến năm 1950, Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 ra đời, sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật.
Sắc lệnh thể hiện nguyên tắc “nam nữ bình đẳng”, “chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình”, tuy không trực tiếp quy định về thành phần tài sản chung của vợ chồng nhưng tinh thần của các sắc lệnh trên cho thấy quan hệ tài sản chung là chế độ cộng đồng tài sản. Như vậy, mặc dù Nhà nước ta lúc bấy giờ chưa ban hành một hệ thống pháp luật mới điều chỉnh về dân sự hay HN&GĐ, nhưng nhìn chung Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 đã thực hiện tốt nhất có thể nhiệm vụ khung pháp lý điều chỉnh quan hệ pháp luật về quan hệ tài sản chung vợ chồng, những quy định đã góp phần đáng kể vào việc xoá bỏ chế độ HN&GĐ thời kỳ phong kiến lạc hậu. Giai đoạn 1954 - 1975 Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1945, kháng chiến chống Pháp bước đầu thắng lợi, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, thống nhất nước nhà. Do đó, ở hai miền đất nước cũng có những đặc điểm pháp luật khác nhau.
Ở miền Bắc, Hiến pháp năm 1959 ra đời đã ghi nhận “quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt”. Những đổi mới chính sách pháp luật đã cho thấy Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 không còn phù hợp với tình hình mới. Ngày 29/12/1959, Luật HN&GĐ đầu tiên đã được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá thứ nhất, kỳ họp thứ 11, thông qua với nhiều tư tưởng tiến bộ, đáp ứng cho sự điều chỉnh các quan hệ vợ chồng thời điểm này. Tại Điều 15 Luật HN&GĐ năm 1959, quy định tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản: “Vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”.
Việc định 19 đoạt tài sản theo nguyên tắc tại Điều 12 Luật HN&GĐ năm 1959 “Trong gia đình vợ chồng đều bình đẳng về mọi mặt”. Ở miền Nam, tiếp tục thực hiện cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước, thời điểm này GD LQTSC của vợ chồng được điều chỉnh bằng một số đạo luật gồm: Luật Gia đình ngày 02/01/1959 (Luật số 1/59), Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú, từ hệ và tài sản cộng đồng, của chế độ Ngô Đình Diệm; Bộ Dân luật ngày 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Cả ba văn bản luật này đều cho phép vợ chồng ký kết với nhau một “hôn ước” thoả thuận, đồng thời thực hiện theo chế độ cộng đồng tài sản. Tuy nhiên, cả ba văn bản luật này vẫn mang bóng dáng của pháp luật phong kiến, bảo vệ quyền gia trưởng của người chồng trong gia đình, bất bình đẳng về tài sản giữa vợ và chồng.
Giai đoạn từ 1975 đến nay Năm 1975, cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nước ta giành thắng lợi, tiến tới thống nhất hai miền đất nước. Ngày 25/3/1977, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết 76/CP quy định về việc thực hiện pháp luật thống nhất Luật HN&GĐ năm 1959. Thời gian từ năm 1977 đến 1985, Luật HN&GĐ 1959 đã có những đóng góp tiến bộ trong hệ thống pháp luật, tuy nhiên dưới sự thay đổi căn bản của hệ thống xã hội đã bộc lộ một số điểm không còn phù hợp. Năm 1986, Quốc hội khoá VI, đề ra đường lối mới “Đảng cộng sản Việt Nam chính thức tuyên bố việc đề ra và thực hiện đường lối đổi mới ở Việt Nam.
Từ thời điểm này, pháp luật Việt Nam dường như có sự lột xác và có sự đổi mới cơ bản”11. Ngày 29/12/1986, Luật HN&GĐ 1986 được Quốc hội khoá VII kỳ họp thứ 12 đã thông qua, với nhiều quy định tiên tiến và phát triển về quan hệ tài sản của vợ chồng, lần đầu tiên ghi nhận giữ vợ chồng có tài sản riêng, điều kiện thỏa thuận khi 11 Phạm Hữu Nghị (2008), ‘Nhìn lại những chặng đường phát triển của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay’, Viện Nhà nước và pháp luật – Viện Khoa học xã hội Việt Nam, mã bài viết VNH3. 20 giao dịch liên quan tài sản chung. Tại Điều 15 Luật HN&GĐ năm 1986 quy định “vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung.