Chế Độ Bầu Cử Ở Nước Ta: Những Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chế độ bầu cử ở nước ta những vấn đề lý luận và thực tiễn luận án ts luật 62 38 01 01, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2009

225
16
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ BẦU CỬ

1.1. Khái niệm, bản chất, vai trị của chế độ bầu cử

1.1.1. Khái niệm chế độ bầu cử

1.1.2. Bản chất, giá trị dân chủ và những yếu tố chi phối, tác động đến chế độ bầu cử

1.1.3. Vai trị của chế độ bầu cử

1.2. Các nguyên tắc bầu cử

1.2.1. Nguyên tắc bầu cử phổ thơng

1.2.2. Nguyên tắc bầu cử bình đẳng

1.2.3. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp

1.2.4. Nguyên tắc bỏ phiếu kín

1.3. Quyền bầu cử, ứng cử, hiệp thƣơng giới thiệu ngƣời ứng cử, vận động bầu cử

1.3.1. Quyền bầu cử

1.3.2. Quyền ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử

1.3.3. Vận động bầu cử

1.4. Đơn vị bầu cử

1.4.1. Khái niệm và bản chất của đơn vị bầu cử

1.4.2. Những ưu điểm và hạn chế cơ bản của đơn vị bầu cử nhiều đại diện và đơn vị bầu cử một đại diện

1.5. Các tổ chức phụ trách bầu cử, phƣơng pháp xác định kết quả bầu cử, bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung

1.5.1. Các tổ chức phụ trách bầu cử

1.5.2. Phương pháp xác định kết quả bầu cử

1.5.3. Bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung

2. CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỘ BẦU CỬ NƢỚC TA TỪ 1945 ĐẾN NAY

2.1. Khái quát về sự phát triển của chế độ bầu cử từ 1945 đến nay

2.1.1. Giai đoạn 1946 đến 1959

2.1.2. Giai đoạn 1959 đến 1980

2.1.3. Giai đoạn 1980 đến 1992

2.1.4. Giai đoạn 1992 đến nay

2.2. Các nguyên tắc bầu cử

2.2.1. Nguyên tắc bầu cử phổ thơng

2.2.2. Nguyên tắc bầu cử bình đẳng

2.2.3. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp

2.2.4. Nguyên tắc bỏ phiếu kín

2.3. Quyền bầu cử, ứng cử, hiệp thƣơng giới thiệu ngƣời ứng cử, vận động bầu cử

2.3.1. Quyền bầu cử

2.3.2. Quyền ứng cử

2.3.3. Hiệp thương giới thiệu người ứng cử

2.3.4. Vận động bầu cử

2.4. Đơn vị bầu cử

2.4.1. Đơn vị bầu cử với việc đảm bảo tính đại diện

2.4.2. Đơn vị bầu cử với việc đảm bảo nguyên tắc bình đẳng

2.5. Các tổ chức phụ trách bầu cử, cơng tác hƣớng dẫn bầu cử, phƣơng pháp xác định kết quả bầu cử, bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung

2.5.1. Các tổ chức phụ trách bầu cử

2.5.2. Cơng tác hướng dẫn bầu cử

2.5.3. Phương pháp xác định kết quả bầu cử

2.5.4. Bầu cử thêm, bầu cử lại, bầu cử bổ sung

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HỒN THIỆN CHẾ ĐỘ BẦU CỬ NƢỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

3.1. Nhu cầu hồn thiện chế độ bầu cử

3.1.1. Hồn thiện chế độ bầu cử xuất phát từ mục tiêu xây dựng và phát huy dân chủ

3.1.2. Hồn thiện chế độ bầu cử xuất phát từ mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

3.1.3. Những bất cập của chế độ bầu cử hiện hành, yêu cầu về sự phù hợp của chế độ bầu cử với các chế định khác của bộ máy nhà nước trong điều kiện mới địi hỏi cần hồn thiện chế độ bầu cử

3.1.4. Hồn thiện chế độ bầu cử xuất phát từ tính tất yếu của quá trình hội nhập quốc tế và là xu thế của thời đại

3.2. Quan điểm hồn thiện chế độ bầu cử

3.2.1. Đổi mới nhận thức về vị trí, vai trị của chế độ bầu cử

3.2.2. Hồn thiện chế độ bầu cử trên cơ sở tơn trọng các nguyên tắc bầu cử mang tính chuẩn mực quốc tế

3.2.3. Đổi mới chế độ bầu cử phải xuất phát vào đặc điểm của chế độ chính trị - xã hội

3.2.4. Hồn thiện chế độ bầu cử cần cĩ lộ trình phù hợp và bước đi hợp lý

3.3. Giải pháp hồn thiện chế độ bầu cử

3.3.1. Nhĩm giải pháp về nhận thức tư tưởng

3.3.2. Nhĩm giải pháp về pháp luật

3.3.3. Nhĩm giải pháp về tổ chức, kỹ thuật

DANH MỤC NHỮNG CƠNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ CƠNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chế Độ Bầu Cử Lý Luận Và Thực Tiễn

Chế độ bầu cử đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng và củng cố một nhà nước dân chủ. Nó không chỉ là phương thức để người dân thực hiện quyền lực của mình, mà còn là cơ chế để đảm bảo tính đại diện và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. Ở Việt Nam, chế độ bầu cử đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đến nay, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và yêu cầu phát triển đất nước, việc tiếp tục hoàn thiện chế độ bầu cử là một nhiệm vụ cấp thiết, đòi hỏi sự nghiên cứu sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn. Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001), Điều 2 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, thông qua các cơ quan đại diện do dân bầu ra.

1.1. Khái Niệm Bản Chất Và Vai Trò Của Chế Độ Bầu Cử

Chế độ bầu cử là một hệ thống các quy tắc, nguyên tắc và thủ tục pháp lý điều chỉnh việc lựa chọn người đại diện vào các cơ quan quyền lực nhà nước. Bản chất của nó là sự thể hiện ý chí của nhân dân, đảm bảo quyền làm chủ của người dân thông qua việc lựa chọn những người có đủ phẩm chất và năng lực để đại diện cho mình. Vai trò của chế độ bầu cử không chỉ dừng lại ở việc hình thành các cơ quan nhà nước, mà còn là công cụ để nhân dân giám sát và kiểm soát quyền lực nhà nước. Theo GS. Đào Trí Úc, cần đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. [125-tr.70]

1.2. Các Nguyên Tắc Bầu Cử Cơ Bản Trong Nền Dân Chủ

Các nguyên tắc bầu cử cơ bản bao gồm: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Nguyên tắc phổ thông đảm bảo mọi công dân đủ điều kiện đều có quyền tham gia bầu cử. Nguyên tắc bình đẳng đảm bảo mỗi cử tri có một phiếu bầu và giá trị phiếu bầu như nhau. Nguyên tắc trực tiếp đảm bảo cử tri trực tiếp bỏ phiếu bầu người mình tín nhiệm. Nguyên tắc bỏ phiếu kín đảm bảo sự tự do và bí mật của lá phiếu. Các nguyên tắc này là nền tảng để đảm bảo tính dân chủ, công bằng và minh bạch của cuộc bầu cử. Theo Liên minh Nghị viện thế giới, bầu cử tự do và công bằng phải dựa trên các văn kiện quốc tế, nhất là Tuyên bố về tiêu chuẩn cho bầu cử tự do và công bằng.

II. Thách Thức Trong Thực Tiễn Bầu Cử Quốc Hội Việt Nam

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, chế độ bầu cử ở Việt Nam vẫn còn đối mặt với một số thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất là làm thế nào để nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, đảm bảo họ thực sự là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Bên cạnh đó, việc đảm bảo tính minh bạch, công khai và khách quan trong quá trình bầu cử, cũng như tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình này, cũng là những vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Theo Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về Công tác xây dựng Đảng tại Đại hội X của Đảng (năm 2006) nêu rõ “Ðổi mới và hoàn thiện chế độ bầu cử, thực hiện bầu cử có số dư, mở rộng quyền tiến cử và tự ứng cử…giám sát cán bộ sau bầu cử” [125-tr.

2.1. Vấn Đề Về Cơ Cấu Và Tiêu Chuẩn Đại Biểu Dân Cử

Cơ cấu và tiêu chuẩn đại biểu dân cử là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của các cơ quan đại diện. Việc xác định cơ cấu đại biểu hợp lý, đảm bảo sự đại diện của các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và giới tính khác nhau, là một yêu cầu quan trọng. Đồng thời, việc nâng cao tiêu chuẩn đại biểu, đảm bảo họ có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ để thực hiện tốt vai trò của mình, cũng là một nhiệm vụ cấp thiết. Theo TS. Bùi Ngọc Thanh, cần chỉ ra những tồn tại, nhất là dưới góc độ thực tiễn tổ chức thực hiện của chế độ bầu cử nước ta và đề xuất một số biện pháp khắc phục.

2.2. Hạn Chế Trong Quy Trình Hiệp Thương Giới Thiệu Ứng Cử Viên

Quy trình hiệp thương, giới thiệu ứng cử viên đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn những người đủ tiêu chuẩn để tham gia bầu cử. Tuy nhiên, quy trình này hiện nay vẫn còn một số hạn chế, như tính hình thức, thiếu dân chủ và chưa tạo điều kiện cho người dân tham gia một cách thực chất. Việc đổi mới quy trình hiệp thương, giới thiệu ứng cử viên, đảm bảo tính công khai, minh bạch và dân chủ, là một yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng bầu cử. Theo TS. Phan Trung Lý, cần đề xuất một số giải pháp khắc phục có ý nghĩa nhất định trong giai đoạn trước mắt, như về công tác hiệp thương, về đơn vị bầu cử.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Bầu Cử Ở Việt Nam

Để giải quyết những thách thức trên, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện, trong đó việc hoàn thiện pháp luật về bầu cử đóng vai trò then chốt. Cần rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định pháp luật hiện hành, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, cần nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế về bầu cử, để xây dựng một hệ thống pháp luật về bầu cử tiên tiến, dân chủ và hiệu quả. Theo GS. Đào Trí Úc, cần đổi mới các thể chế bầu cử: từ qui trình lựa chọn, ứng cử và đề cử, hiệp thương lập danh sách ứng cử viên, qui trình tiếp xúc với cử tri cho đến chương trình tranh cử của các ứng cử viên [99-tr.

3.1. Sửa Đổi Bổ Sung Luật Bầu Cử Đại Biểu Quốc Hội HĐND

Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cần được sửa đổi, bổ sung để khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay. Cần quy định rõ hơn về tiêu chuẩn đại biểu, quy trình hiệp thương, giới thiệu ứng cử viên, quyền và nghĩa vụ của cử tri, cũng như các biện pháp đảm bảo tính minh bạch, công khai và khách quan của cuộc bầu cử. Việc sửa đổi, bổ sung luật bầu cử cần dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và tham khảo ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học và người dân.

3.2. Tăng Cường Giám Sát Bầu Cử Xử Lý Vi Phạm Pháp Luật

Giám sát bầu cử là một khâu quan trọng để đảm bảo tính dân chủ, công bằng và minh bạch của cuộc bầu cử. Cần tăng cường vai trò giám sát của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và người dân. Đồng thời, cần có các biện pháp xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về bầu cử, như gian lận, mua phiếu, cản trở quyền bầu cử của công dân. Theo TS. Đặng Đình Tân, bầu cử là phương thức rất quan trọng và hữu hiệu thông qua đó, nhân dân giám sát Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.

IV. Ứng Dụng Công Nghệ Trong Tổ Chức Bầu Cử Xu Hướng Mới

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc ứng dụng công nghệ vào tổ chức bầu cử là một xu hướng tất yếu. Ứng dụng công nghệ có thể giúp tăng cường tính minh bạch, chính xác và hiệu quả của quá trình bầu cử, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia bầu cử. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ cũng cần được thực hiện một cách thận trọng, đảm bảo an toàn, bảo mật và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Theo Alan Wall, cần đề cập đến các cách thức tổ chức bầu cử, những nguyên tắc tổ chức, quản lý để các cuộc bầu cử đảm bảo tính khách quan, trung thực.

4.1. Xây Dựng Hệ Thống Bầu Cử Trực Tuyến An Toàn Bảo Mật

Việc xây dựng hệ thống bầu cử trực tuyến là một giải pháp tiềm năng để tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình bầu cử, đặc biệt là những người ở vùng sâu, vùng xa hoặc những người có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, hệ thống bầu cử trực tuyến cần được xây dựng một cách an toàn, bảo mật, đảm bảo tính xác thực của thông tin và ngăn chặn các hành vi gian lận. Cần có các biện pháp kiểm tra, xác minh danh tính cử tri, mã hóa dữ liệu và giám sát quá trình bầu cử trực tuyến.

4.2. Số Hóa Quy Trình Kiểm Phiếu Công Bố Kết Quả Bầu Cử

Việc số hóa quy trình kiểm phiếu và công bố kết quả bầu cử có thể giúp tăng cường tính minh bạch, chính xác và nhanh chóng của quá trình này. Cần sử dụng các thiết bị, phần mềm hiện đại để kiểm phiếu tự động, giảm thiểu sai sót và gian lận. Đồng thời, cần công bố kết quả bầu cử một cách công khai, minh bạch trên các phương tiện thông tin đại chúng, để người dân có thể theo dõi và giám sát. Theo Liên hợp quốc, cần thúc đẩy, mở rộng sự tham gia của phụ nữ vào bầu cử.

V. Vai Trò Của Bầu Cử Trong Phát Triển Kinh Tế Xã Hội

Bầu cử không chỉ là một sự kiện chính trị mà còn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Một hệ thống bầu cử dân chủ, minh bạch và hiệu quả có thể tạo ra một môi trường chính trị ổn định, thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, bầu cử cũng là cơ chế để người dân tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, đảm bảo các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Theo Huntington, việc lựa chọn một chế độ bầu cử phù hợp đối với từng quốc gia có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết mang tính gốc rễ các xung đột xã hội bằng phương pháp hòa bình.

5.1. Bầu Cử Và Ổn Định Chính Trị Thu Hút Đầu Tư

Một cuộc bầu cử diễn ra một cách dân chủ, công bằng và minh bạch có thể củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống chính trị, tạo ra một môi trường chính trị ổn định. Sự ổn định chính trị là yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm cho người dân. Theo David Beetham, Nghị viện - sản phẩm của chế độ bầu cử trong việc thực thi dân chủ.

5.2. Bầu Cử Và Sự Tham Gia Của Người Dân Vào Chính Sách

Bầu cử là cơ chế để người dân lựa chọn những người đại diện cho mình vào các cơ quan quyền lực nhà nước. Những người đại diện này có trách nhiệm lắng nghe ý kiến của người dân, phản ánh ý chí và nguyện vọng của người dân vào quá trình hoạch định chính sách. Điều này đảm bảo các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp với lợi ích của người dân và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

VI. Kết Luận Hướng Tới Một Nền Bầu Cử Dân Chủ Tiến Bộ

Chế độ bầu cử ở Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, việc tiếp tục hoàn thiện chế độ bầu cử là một nhiệm vụ cấp thiết, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn xã hội. Cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện, từ hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực của các tổ chức phụ trách bầu cử, đến tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình này. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một nền bầu cử dân chủ, tiến bộ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Theo Nguyễn Đăng Dung, bầu cử là phương thức quan trọng để ngăn ngừa sự độc đoán, chuyên quyền đối với các thiết chế quyền lực nhà nước.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Tiếp Tục Cải Cách Bầu Cử

Việc tiếp tục cải cách bầu cử là một yêu cầu khách quan, xuất phát từ yêu cầu phát triển của đất nước và xu thế hội nhập quốc tế. Cải cách bầu cử không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Cần có sự tham gia tích cực của các chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức chính trị - xã hội và người dân vào quá trình này.

6.2. Xây Dựng Nền Bầu Cử Phù Hợp Với Đặc Điểm Việt Nam

Việc xây dựng một nền bầu cử dân chủ, tiến bộ cần phải phù hợp với đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của Việt Nam. Không nên sao chép một cách máy móc kinh nghiệm của các nước khác, mà cần phải vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước. Cần kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ chế độ bầu cử ở nước ta những vấn đề lý luận và thực tiễn luận án ts luật 62 38 01 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về chế độ bầu cử; Chương 2: Chế độ bầu cử nước ta từ năm 1945 đến nay; Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chế độ bầu cử ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 16 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ BẦU CỬ 1. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT, VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỘ BẦU CỬ 1. Khái niệm chế độ bầu cử 1.

Khái niệm và bản chất của bầu cử Bầu cử đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại. Trong chế độ cộng sản nguyên thủy, do nhu cầu cần có người phụ trách công việc chung của thị tộc nên mỗi thị tộc đều có thủ tục bầu ra người đứng đầu, thường bầu ra Tù trưởng và Thủ lĩnh quân sự. Tất cả các thành viên nam, nữ trong thị tộc đều tham gia các cuộc bầu cử này [19-tr.Trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, ngoài hình thức chính thể quân chủ là phổ biến, thì cũng đã tồn tại chính thể cộng hòa với Viện nguyên lão bao gồm đại diện của những chủ nô quý tộc (Comita centuria) và đại diện của những người cầm vũ khí [90-tr. Giai đoạn đầu của chế độ phong kiến, bên cạnh các chính thể quân chủ, còn tồn tại hình thức cộng hòa phong kiến, ở đó những người có vị thế bầu ra Đại hội nhân dân.

Dưới chế độ phong kiến chuyên chế, nói chung bầu cử không được áp dụng [32-tr. Trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản đã sử dụng bầu cử như một vũ khí hữu hiệu để hạn chế quyền lực của giai cấp phong kiến. Cách mạng dân chủ tư sản xác lập, chế độ dân chủ tư sản tuyên bố chủ quyền nhân dân, cũng đồng thời khẳng định bầu cử là phương thức căn bản để ủy quyền, qua đó thành lập ra các thiết chế đại diện. Với tính chất là chế định pháp luật để bầu cơ quan đại diện, pháp luật bầu cử là sản phẩm của chế độ dân chủ châu Âu.

Vào đầu thế kỷ XVIII, tính đại diện trong cơ quan lập pháp ở một số nước dựa trên cơ cấu của những đẳng cấp xã hội (categories of society) và là kết quả của bầu cử gián tiếp. Chẳng hạn, Bản hướng dẫn bầu cử ở Tây Ban Nha ngày 1 tháng 1 năm 1810 qui định quyền bầu cử cho những người đàn ông từ 25 tuổi trở lên, bầu Nghị viện (Las Cortes) qua ba cấp (athird-degree indirect vote): Công dân bầu chọn đại biểu thành phố tự trị (municipalities), tiếp theo các đại biểu này bầu đại diện trong từng vùng (regions) và cuối cùng, những đại diện vùng bầu người Hội đồng lập hiến (Constituent Assembly). Cuối thế kỷ XVIII và suốt thế kỷ XIX, công dân đấu tranh đòi mở rộng quyền bầu cử của họ. Tính đại diện dựa trên cộng đồng 17 z (communities) dần được thay thế bằng các cá nhân công dân.

Bầu cử trực tiếp dần thay thế cho bầu cử gián tiếp [157]. Chủ quyền nhân dân (quyền lực nhân dân) là bản chất và là đặc trưng các nhà nước và xã hội dân chủ. Tuy nhiên, việc thực thi chủ quyền nhân dân thì vấn đề lại không đơn giản trong các nhà nước và xã hội. Có hai hình thức cơ bản để thực hiện quyền lực nhân dân là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Dân chủ trực tiếp là việc người dân trực tiếp quyết định các vấn đề của họ, mà không cần qua các đại biểu hoặc cơ quan trung gian. Về phương diện lý luận, dân chủ trực tiếp mới thực sự là dân chủ, vì nhân dân trực tiếp quyết định, như nó đã được áp dụng trong hoạt động của chính quyền Athens thời cổ đại. Về phương diện tổ chức thực hiện, dân chủ trực tiếp gặp một khó khăn rất lớn, vì thường xuyên triệu tập hội nghị toàn dân là vấn đề không hề đơn giản, đặc biệt đối với những quốc gia đông dân và rộng lớn. Bên cạnh đó, rất nhiều các học giả, chính khách cho rằng chính trị là những công việc phức tạp, không phải và không nên dành cho tất cả dân chúng.

Vào thế kỷ XVIII, trong đời sống chính trị thế giới đã xuất hiện lý thuyết đại diện gắn liền với tên tuổi của Locke, Rousseau và Montesquieu. Theo lý thuyết đại diện, quyền lực về nguyên tắc thuộc về nhân dân, nhưng do những nguyên nhân khác nhau, nhân dân không thể trực tiếp thực hiện toàn bộ quyền lực của mình, mà phải uỷ thác cho những người đại diện để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực của nhân dân. Rousseau, mặc dù cho rằng dân chủ trực tiếp mới là dân chủ thực sự, nhưng cũng phải thừa nhận rằng đó là một hình thức lý tưởng; nhân dân phải uỷ quyền cho người đại diện, mà không thể trực tiếp thực hiện quyền lực của mình. John Stuart Mill, tác giả của Chính thể đại diện, một tác phẩm kinh điển về nền dân chủ phương Tây, được xem như những khảo cứu mang tính nền tảng đối với các thiết chế chính trị -xã hội ở các nước Anh, Hoa Kỳ thế kỷ XIX [52-tr.7, 8], cũng đã viết “Chỉ có Chính phủ toàn dân tham dự là thỏa mãn đầy đủ mọi nhu cầu cấp bách của tình trạng xã hội…và rằng không có gì đáng mong muốn hơn là sự thừa nhận của mọi người cùng chia sẻ chủ quyền nhà nước.

Nhưng vì trong một cộng đồng vượt quá một đô thị đơn lẻ nhỏ bé, thì không thể tất cả mọi người đều đích thân tham dự vào mọi việc công cộng, ngoại trừ một phần nhỏ bé công việc nào đó. Từ đó suy ra rằng loại chính thể hoàn hảo lý tưởng nhất phải là chính thể mang tính đại diện” [52-tr. Như vậy, phương thức để nhân dân lựa chọn người đại diện và uỷ thác quyền lực cho người đại diện chính là bầu cử. Ở bất cứ quốc gia nào, trong xã 18 z hội nào và thời kỳ nào, nói đến bầu cử, trước hết là nói đến việc lựa chọn của nhân dân.

Phổ biến hiện nay ở các nước là lựa chọn người đại biểu trong cơ quan lập pháp. Các nước tư sản được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực, vì vậy, bầu cử không những là phương thức thành lập cơ quan lập pháp mà còn có thể được áp dụng để bầu các chức danh trong các nhánh quyền lực khác, như Tổng thống, các Thị trưởng và có thể các chức danh trong các cơ quan Tư pháp. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bầu cử là phương thức để thành lập ra các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước. Khác với nhà nước tư sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa không tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực, mà quyền lực nhà nước là thống nhất, do đó, đối tượng được bầu cử ở các nước xã hội chủ nghĩa thường chỉ là các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước, bao gồm Quốc hội (ở Trung ương) và Hội đồng nhân dân các cấp (ở địa phương).

Ở nước ta hiện nay, bầu cử là phương thức nhân dân trực tiếp bầu ra Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Cũng cần nói thêm rằng, vì đối tượng của việc lựa chọn trong bầu cử không chỉ có cơ quan lập pháp, mà có thể là người đứng đầu quyền hành pháp, hoặc các chức danh trong quyền tư pháp; do đó, có thể nói: các đại biểu, các chức danh là kết quả của bầu cử đều là người đại diện cho nhân dân, vì họ do nhân dân trực tiếp bầu ra và trao quyền. Khi nhân dân bầu ra Quốc hội và trao cho Quốc hội quyền lập pháp, thì điều đó có nghĩa Quốc hội đại diện cho nhân dân để thực hiện quyền lập pháp. Khi nhân dân bầu ra Tổng thống để thực hiện quyền hành pháp, có nghĩa là Tổng thống đại diện (thay mặt) cho nhân dân để thực hiện quyền hành pháp.

Do đó, theo quan điểm của chúng tôi: những ai, tổ chức nào do nhân dân bầu ra, thì đồng thời cũng có nghĩa họ là người đại diện cho nhân dân. Họ đại diện cho nhân dân để thực hiện chức năng gì (làm gì), thì đó lại là một vấn đề khác cần bàn. Có lẽ vì bầu cử cơ quan đại diện (đặc biệt là cơ quan lập pháp) phổ biến hơn rất nhiều so với bầu cử các chức danh trong hành pháp và đặc biệt là tư pháp, nên thuật ngữ chế độ đại diện hiện nay được sử dụng với nghĩa phổ biến là chỉ cơ quan lập pháp. Ngoài ra, bầu cử còn là việc trao quyền lực (ủy thác quyền lực) của nhân dân cho người đại diện.

Điều đó có nghĩa là, thông qua hành vi bỏ phiếu, người dân lựa chọn, đồng thời trao quyền lực của mình cho người đại diện. Ai, chủ thể nào được chọn lựa qua bầu cử, chủ thể đó nhận quyền lực từ nhân dân. Thực chất của vấn đề trao bao nhiêu (mức độ) quyền lực cho người đại diện 19 z không chỉ đơn thuần là hành vi bỏ phiếu, mà còn liên quan đến việc ai là người qui định quyền lực (nhiệm vụ, quyền hạn ) cho cơ quan đại diện và nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu dân cử. Ai là người qui định nhiệm vụ, quyền hạn cho Quốc hội, cho đại biểu Quốc hội, thì người đó quyết định về mức độ quyền lực.

Nói cách khác, ai phân công quyền lực nhà nước, thì người đó quyết định về mức độ trao quyền lực. Trong các nền dân chủ đương đại thì vấn đề này thường được qui định trong hiến pháp của mỗi nước. Khi nhân dân bầu ra đại biểu Quốc hội, thì đại biểu Quốc hội được bầu ra có quyền lực (thẩm quyền) của người đại diện, thẩm quyền này thường được ấn định trong hiến pháp. Nếu hiến pháp đó vẫn tồn tại, thì người đại diện dù được bầu ở nhiệm kỳ này hay nhiệm kỳ khác, họ vẫn có nhiệm vụ, quyền hạn giống nhau do hiến pháp qui định; nếu hiến pháp thay đổi, thì các đại biểu được bầu có nhiệm vụ, quyền hạn thay đổi theo sự ấn định của hiến pháp mới.

Như vậy, phạm vi thẩm quyền của người đại diện không phải do cử tri trực tiếp quyết định trong kỳ bầu cử, mà do hiến pháp qui định. Nói cách khác, trong bầu cử, cử tri chỉ trao quyền cho người đại diện. Ai được cử tri lựa chọn thì người đó nhận được quyền lực từ nhân dân, người đó sẽ có quyền lực của người đại biểu nhân dân. Còn nhận được bao nhiêu quyền (phạm vi thẩm quyền): vấn đề này do hiến pháp qui định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chế Độ Bầu Cử Ở Việt Nam: Lý Luận Và Thực Tiễn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hệ thống bầu cử tại Việt Nam, từ lý thuyết đến thực tiễn. Tài liệu phân tích các nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử, vai trò của các cơ quan chức năng, cũng như những thách thức và cơ hội trong việc thực hiện quyền bầu cử của công dân. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách thức bầu cử diễn ra, cũng như tầm quan trọng của nó trong việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận án tiến sĩ bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở việt nam hiện nay", nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình bầu cử ở các cấp địa phương. Bên cạnh đó, tài liệu "Luận văn thạc sĩ luật học vai trò của cơ quan bầu cử quốc gia ở việt nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của các cơ quan bầu cử trong việc đảm bảo tính minh bạch và công bằng của cuộc bầu cử. Cuối cùng, tài liệu "Kỷ yếu hội thảo khoa học chế độ bầu cử và vấn đề dân chủ xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay" sẽ cung cấp thêm thông tin về mối liên hệ giữa bầu cử và dân chủ trong bối cảnh hiện tại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về chế độ bầu cử và vai trò của nó trong xã hội Việt Nam.