Chương 1: Cơ sở lý luận về chế độ bầu cử; Chương 2: Chế độ bầu cử nước ta từ năm 1945 đến nay; Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chế độ bầu cử ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 16 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ BẦU CỬ 1. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT, VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỘ BẦU CỬ 1. Khái niệm chế độ bầu cử 1.
Khái niệm và bản chất của bầu cử Bầu cử đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại. Trong chế độ cộng sản nguyên thủy, do nhu cầu cần có người phụ trách công việc chung của thị tộc nên mỗi thị tộc đều có thủ tục bầu ra người đứng đầu, thường bầu ra Tù trưởng và Thủ lĩnh quân sự. Tất cả các thành viên nam, nữ trong thị tộc đều tham gia các cuộc bầu cử này [19-tr.Trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, ngoài hình thức chính thể quân chủ là phổ biến, thì cũng đã tồn tại chính thể cộng hòa với Viện nguyên lão bao gồm đại diện của những chủ nô quý tộc (Comita centuria) và đại diện của những người cầm vũ khí [90-tr. Giai đoạn đầu của chế độ phong kiến, bên cạnh các chính thể quân chủ, còn tồn tại hình thức cộng hòa phong kiến, ở đó những người có vị thế bầu ra Đại hội nhân dân.
Dưới chế độ phong kiến chuyên chế, nói chung bầu cử không được áp dụng [32-tr. Trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản đã sử dụng bầu cử như một vũ khí hữu hiệu để hạn chế quyền lực của giai cấp phong kiến. Cách mạng dân chủ tư sản xác lập, chế độ dân chủ tư sản tuyên bố chủ quyền nhân dân, cũng đồng thời khẳng định bầu cử là phương thức căn bản để ủy quyền, qua đó thành lập ra các thiết chế đại diện. Với tính chất là chế định pháp luật để bầu cơ quan đại diện, pháp luật bầu cử là sản phẩm của chế độ dân chủ châu Âu.
Vào đầu thế kỷ XVIII, tính đại diện trong cơ quan lập pháp ở một số nước dựa trên cơ cấu của những đẳng cấp xã hội (categories of society) và là kết quả của bầu cử gián tiếp. Chẳng hạn, Bản hướng dẫn bầu cử ở Tây Ban Nha ngày 1 tháng 1 năm 1810 qui định quyền bầu cử cho những người đàn ông từ 25 tuổi trở lên, bầu Nghị viện (Las Cortes) qua ba cấp (athird-degree indirect vote): Công dân bầu chọn đại biểu thành phố tự trị (municipalities), tiếp theo các đại biểu này bầu đại diện trong từng vùng (regions) và cuối cùng, những đại diện vùng bầu người Hội đồng lập hiến (Constituent Assembly). Cuối thế kỷ XVIII và suốt thế kỷ XIX, công dân đấu tranh đòi mở rộng quyền bầu cử của họ. Tính đại diện dựa trên cộng đồng 17 z (communities) dần được thay thế bằng các cá nhân công dân.
Bầu cử trực tiếp dần thay thế cho bầu cử gián tiếp [157]. Chủ quyền nhân dân (quyền lực nhân dân) là bản chất và là đặc trưng các nhà nước và xã hội dân chủ. Tuy nhiên, việc thực thi chủ quyền nhân dân thì vấn đề lại không đơn giản trong các nhà nước và xã hội. Có hai hình thức cơ bản để thực hiện quyền lực nhân dân là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
Dân chủ trực tiếp là việc người dân trực tiếp quyết định các vấn đề của họ, mà không cần qua các đại biểu hoặc cơ quan trung gian. Về phương diện lý luận, dân chủ trực tiếp mới thực sự là dân chủ, vì nhân dân trực tiếp quyết định, như nó đã được áp dụng trong hoạt động của chính quyền Athens thời cổ đại. Về phương diện tổ chức thực hiện, dân chủ trực tiếp gặp một khó khăn rất lớn, vì thường xuyên triệu tập hội nghị toàn dân là vấn đề không hề đơn giản, đặc biệt đối với những quốc gia đông dân và rộng lớn. Bên cạnh đó, rất nhiều các học giả, chính khách cho rằng chính trị là những công việc phức tạp, không phải và không nên dành cho tất cả dân chúng.
Vào thế kỷ XVIII, trong đời sống chính trị thế giới đã xuất hiện lý thuyết đại diện gắn liền với tên tuổi của Locke, Rousseau và Montesquieu. Theo lý thuyết đại diện, quyền lực về nguyên tắc thuộc về nhân dân, nhưng do những nguyên nhân khác nhau, nhân dân không thể trực tiếp thực hiện toàn bộ quyền lực của mình, mà phải uỷ thác cho những người đại diện để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực của nhân dân. Rousseau, mặc dù cho rằng dân chủ trực tiếp mới là dân chủ thực sự, nhưng cũng phải thừa nhận rằng đó là một hình thức lý tưởng; nhân dân phải uỷ quyền cho người đại diện, mà không thể trực tiếp thực hiện quyền lực của mình. John Stuart Mill, tác giả của Chính thể đại diện, một tác phẩm kinh điển về nền dân chủ phương Tây, được xem như những khảo cứu mang tính nền tảng đối với các thiết chế chính trị -xã hội ở các nước Anh, Hoa Kỳ thế kỷ XIX [52-tr.7, 8], cũng đã viết “Chỉ có Chính phủ toàn dân tham dự là thỏa mãn đầy đủ mọi nhu cầu cấp bách của tình trạng xã hội…và rằng không có gì đáng mong muốn hơn là sự thừa nhận của mọi người cùng chia sẻ chủ quyền nhà nước.
Nhưng vì trong một cộng đồng vượt quá một đô thị đơn lẻ nhỏ bé, thì không thể tất cả mọi người đều đích thân tham dự vào mọi việc công cộng, ngoại trừ một phần nhỏ bé công việc nào đó. Từ đó suy ra rằng loại chính thể hoàn hảo lý tưởng nhất phải là chính thể mang tính đại diện” [52-tr. Như vậy, phương thức để nhân dân lựa chọn người đại diện và uỷ thác quyền lực cho người đại diện chính là bầu cử. Ở bất cứ quốc gia nào, trong xã 18 z hội nào và thời kỳ nào, nói đến bầu cử, trước hết là nói đến việc lựa chọn của nhân dân.
Phổ biến hiện nay ở các nước là lựa chọn người đại biểu trong cơ quan lập pháp. Các nước tư sản được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực, vì vậy, bầu cử không những là phương thức thành lập cơ quan lập pháp mà còn có thể được áp dụng để bầu các chức danh trong các nhánh quyền lực khác, như Tổng thống, các Thị trưởng và có thể các chức danh trong các cơ quan Tư pháp. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bầu cử là phương thức để thành lập ra các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước. Khác với nhà nước tư sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa không tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân chia quyền lực, mà quyền lực nhà nước là thống nhất, do đó, đối tượng được bầu cử ở các nước xã hội chủ nghĩa thường chỉ là các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước, bao gồm Quốc hội (ở Trung ương) và Hội đồng nhân dân các cấp (ở địa phương).
Ở nước ta hiện nay, bầu cử là phương thức nhân dân trực tiếp bầu ra Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Cũng cần nói thêm rằng, vì đối tượng của việc lựa chọn trong bầu cử không chỉ có cơ quan lập pháp, mà có thể là người đứng đầu quyền hành pháp, hoặc các chức danh trong quyền tư pháp; do đó, có thể nói: các đại biểu, các chức danh là kết quả của bầu cử đều là người đại diện cho nhân dân, vì họ do nhân dân trực tiếp bầu ra và trao quyền. Khi nhân dân bầu ra Quốc hội và trao cho Quốc hội quyền lập pháp, thì điều đó có nghĩa Quốc hội đại diện cho nhân dân để thực hiện quyền lập pháp. Khi nhân dân bầu ra Tổng thống để thực hiện quyền hành pháp, có nghĩa là Tổng thống đại diện (thay mặt) cho nhân dân để thực hiện quyền hành pháp.
Do đó, theo quan điểm của chúng tôi: những ai, tổ chức nào do nhân dân bầu ra, thì đồng thời cũng có nghĩa họ là người đại diện cho nhân dân. Họ đại diện cho nhân dân để thực hiện chức năng gì (làm gì), thì đó lại là một vấn đề khác cần bàn. Có lẽ vì bầu cử cơ quan đại diện (đặc biệt là cơ quan lập pháp) phổ biến hơn rất nhiều so với bầu cử các chức danh trong hành pháp và đặc biệt là tư pháp, nên thuật ngữ chế độ đại diện hiện nay được sử dụng với nghĩa phổ biến là chỉ cơ quan lập pháp. Ngoài ra, bầu cử còn là việc trao quyền lực (ủy thác quyền lực) của nhân dân cho người đại diện.
Điều đó có nghĩa là, thông qua hành vi bỏ phiếu, người dân lựa chọn, đồng thời trao quyền lực của mình cho người đại diện. Ai, chủ thể nào được chọn lựa qua bầu cử, chủ thể đó nhận quyền lực từ nhân dân. Thực chất của vấn đề trao bao nhiêu (mức độ) quyền lực cho người đại diện 19 z không chỉ đơn thuần là hành vi bỏ phiếu, mà còn liên quan đến việc ai là người qui định quyền lực (nhiệm vụ, quyền hạn ) cho cơ quan đại diện và nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu dân cử. Ai là người qui định nhiệm vụ, quyền hạn cho Quốc hội, cho đại biểu Quốc hội, thì người đó quyết định về mức độ quyền lực.
Nói cách khác, ai phân công quyền lực nhà nước, thì người đó quyết định về mức độ trao quyền lực. Trong các nền dân chủ đương đại thì vấn đề này thường được qui định trong hiến pháp của mỗi nước. Khi nhân dân bầu ra đại biểu Quốc hội, thì đại biểu Quốc hội được bầu ra có quyền lực (thẩm quyền) của người đại diện, thẩm quyền này thường được ấn định trong hiến pháp. Nếu hiến pháp đó vẫn tồn tại, thì người đại diện dù được bầu ở nhiệm kỳ này hay nhiệm kỳ khác, họ vẫn có nhiệm vụ, quyền hạn giống nhau do hiến pháp qui định; nếu hiến pháp thay đổi, thì các đại biểu được bầu có nhiệm vụ, quyền hạn thay đổi theo sự ấn định của hiến pháp mới.
Như vậy, phạm vi thẩm quyền của người đại diện không phải do cử tri trực tiếp quyết định trong kỳ bầu cử, mà do hiến pháp qui định. Nói cách khác, trong bầu cử, cử tri chỉ trao quyền cho người đại diện. Ai được cử tri lựa chọn thì người đó nhận được quyền lực từ nhân dân, người đó sẽ có quyền lực của người đại biểu nhân dân. Còn nhận được bao nhiêu quyền (phạm vi thẩm quyền): vấn đề này do hiến pháp qui định.