Chương 1: Những vấn đề lý luận về che giấu tội phạm trong luật hình sự. Chương 2: Quy định của bộ luật hình sự về chế định che giấu tội phạm và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng chế định che giấu tội phạm trong luật hình sự Việt Nam. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHE GIẤU TỘI PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SƢ̣ 1.
Khái niệm, đặc điểm của chế định che giấu tội phạm trong luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm về che giấu tội phạm và chế định che giấu tội phạm 1. Che giấu tội phạm Trong khoa học pháp lý hình sự hiện nay, chưa có khái niệm thống nhất cụ thể về che giấu tội phạm. Tuy nhiên, qua nghiên cứu có thể thấy rằng, che giấu tội phạm và tội che giấu tội phạm đã được quy định từ rất lâu trong lịch sử lập pháp của Việt Nam, với tính chất như chế định mang tính chất không thể thiếu của pháp luật hình sự.
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì “che giấu” là một động từ có nghĩa là hành động không để ai biết, không để lộ điều gì đó cho ai biết. Từ đó, có thể hiểu một cách đơn giản che giấu tội phạm là không để ai biết được, hay không để lộ cho ai đó biết về một tội phạm mà người khác đã được thực hiện mà mình biết. Hành vi che giấu tội phạm được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội có liên quan đến một tội phạm khác. Tuy người có hành vi che giấu không trực tiếp gây ra tội phạm đó nhưng người này đã cố ý che đậy, giấu giếm để hành vi phạm tội và người gây ra tội phạm đó không bị người khác phát hiện và bị xử lý trước pháp luật.
Hành vi che giấu này là gây nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ nó cản trở tới việc pháp hiện kịp thời và xử lý hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhằm đảm bảo sự công minh, khách quan và công bằng của xã hội, gây cản trở rất nhiều cho việc điều tra khám phá vụ án của các cơ quan có thẩm quyền. Người che giấu tội phạm có thể dùng nhiều thủ đoạn và hình thức khác 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tuy không hứa hẹn trước là sẽ che giấu hành vi phạm tội và người phạm tội, nhưng khi biết được hành vi phạm tội được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thời điểm là biết sau khi tội phạm được thực hiện. Hành vi của người che giấu tội phạm được thực hiện dưới hình thức cố ý trực tiếp.
Bởi lẽ, người đó đã biết rõ về hành vi phạm tội cũng như người phạm tội nhưng vẫn cố ý giúp người đó che giấu tội phạm đã được thực hiện. Người có hành vi che giấu hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình, biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội tuy nhiên người đó vẫn lựa chọn và hành động là che giấu cho tội phạm hoặc người phạm tội [17, tr. Mục đích cuối cùng của người che giấu tội phạm là gây cản trở rất nhiều cho việc điều tra khám phá vụ án của các cơ quan có thẩm quyền làm cho tội phạm không được phát hiện kịp thời và xử lý hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhằm đảm bảo sự công minh, khách quan và công bằng của xã hội. Hành vi che giấu tội phạm là một hành vi nguy hiểm gây cản trở tới hoạt động tư pháp làm cho người phạm tội không bị phát hiện và xử lý kịp thời.
Do nhiều động cơ khác nhau trong từng trường hợp cụ thể thúc đẩy dẫn đến hành vi che giấu tội phạm ở một người. Có thể do có quan hệ gắn bó về tình cảm (quan hệ cha me với con cai, ông bà với cháu,…), do chuộc lợi,… mà người này thực hiện hành vi che giấu cho hành động phạm tội của người khác. Chính vì vậy theo quan điểm của các nhà lập pháp thì không phải tất cả các trường hợp này đều bị coi là che giấu tội phạm mà chi có người nào thực hiện các hành vi che giấu tội phạm được PLHS quy định mới là người che giấu tội phạm. Từ những phân tích trên đây ta có thể đưa ra cách hiểu khái quát nhất về hành vi che giấu tội phạm, như sau: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Che giấu tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội của người tuy không không tham gia vào việc thực hiện tội phạm, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã cố ý che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác nhằm cản trở việc phát hiện, điểu tra xử lý người phạm tội.
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm của che giấu tội phạm như sau: Thứ nhất, hành vi che giấu tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội có liên quan tới tội phạm khác. Hành vi che giấu này phải được thực hiện sau khi tội phạm đã được thực hiện xong. Tức là người phạm tội (tội phạm cần che giấu) đã thực hiện xong các hành vi để dẫn đến hậu quả của tội phạm [17, tr. Lúc này mới xuất hiện hành vi của một người khi thực hiện các hành vi che giấu người phạm tội, xóa dấu vết, tang vật và các hành vi khác cản trở hoạt động điều tra.
Nếu như hành vi phạm tội đang xảy ra, chưa kết thúc mà người có hành vi che giấu biết được tội phạm đang được thực hiện đã thống nhất ý chí với người đó để hứa hẹn che giấu tội phạm cho người đó thì sẽ trở thành người đồng phạm đối với người phạm tội. Điều này phân biệt được che giấu tội phạm với người thực hiện hành vi giúp sức trong đồng phạm (Sự phân biệt giữa hai nội dung này nằm ở phần tiếp theo của Luận văn). Thứ hai, người thực hiện hành vi che giấu tội phạm phải thực hiện các hành vi trên thực tế là che giấu người phạm tội như: chở đi trốn, đào hầm cho trốn, cất giấu người phạm tội; hành vi xóa dấu vết, tang vật vụ án như: giặt quần áo, xóa vết máu, lau rửa xe, cấn giấu xe máy, dao là công cụ, phương tiện phạm tội, hoặc có hành vi cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội thì mới phạm tội này. Còn nếu như biết được tội phạm đã được thực hiện, nhưng không thực hiện hành vi tố giác với cơ quan có thẩm quyền làm cho quá trình phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm được nhanh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chóng, thuận lợi thì chỉ phạm tội không tố giác tội phạm.
Hay nói cách khác, che giấu tội phạm phải là hành động phạm phạm, mang tính chủ động của người phạm tội. Điều này góp phần phân biệt và làm rõ giữa che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm [17, tr. Thứ ba, hành vi che giấu tội phạm phải được thực hiện một cách cố ý nhằm che giấu người phạm tội, xóa dấu vết, tang vật gây cản trở hoạt động điều tra, hoặc phát hiện xử lý tội phạm đối. Như vậy, một người có các hành vi che giấu đối với những vi phạm pháp luật chưa đến mức độ quy định trong BLHS là tội phạm như: vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật, vi phạm dân sự thì không thuộc nội dung của chế định che giấu tội phạm.
Điều này cho thấy tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn của hành vi che giấu tội phạm. Bởi lẽ, chế định che giấu tội phạm được quy định với mục đích bảo vệ sự đúng đắn trong hoạt động tư pháp (thể hiện ở việc phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm). Đồng thời một trong những trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân đó là việc phải tích cực hỗ trợ, hợp tác với cơ quan nhà nước trong việc xử lý tội phạm. Đây vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của người dân, bởi vì nếu tích cực hợp tác với Nhà nước trong phát hiện xử lý tội phạm thì công dân mới sống trong một môi trường an toàn, lành mạnh mà mọi hành vi phạm tội đều bị xử lý nghiêm minh.
Còn ở những mức độ khác như hành vi che giấu các vi phạm pháp luật hành chính, kỷ luật thì mới chỉ dừng lại ở khía cạnh nhỏ chưa nghiêm trọng chưa đủ để xử lý hình sự đối với người che giấu. Thứ tư, không phải hành vi che giấu tội phạm nào cũng đều coi là tội phạm. Hành vi che giấu tội phạm chỉ bị xử lý trách nhiệm hình sự nếu che giấu một số loại tội phạm được quy định trong các trường hợp cụ thể của PLHS mà không áp dụng đối với tất cả các trường hợp có hành vi che giấu tội phạm. Điều này cho thấy, tùy thuộc vào mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội, nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng của loại tội phạm được che giấu mà 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người có hành vi che giấu mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đây là cơ sở để xác định một người có bị coi là tội phạm – khi thực hiện hành vi che giấu tội phạm hay không. Cơ sở về kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia trên thế giới đều cho thấy, việc che giấu tội phạm chỉ nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số loại tội phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm nhất định. Điều này vừa tạo ra sự nghiêm minh của pháp luật nhưng cũng đồng thời thể hiện việc không truy cứu trách nhiệm hình sự một cách tràn lan mà cần phải phân hóa các trường hợp khác nhau. Chế định che giấu tội phạm Nếu như khái niệm “che giấu tội phạm” dùng chỉ hành vi của một người sau khi biết tội phạm được thực hiện mà đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật hoặc gây cản trở cho việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội (như đã phân tích ở phần trên) thì “chế định che giấu tội phạm” là khái niệm pháp lý để chỉ hệ thống các quy phạm pháp lý điều chỉnh vấn đề che giấu tội phạm trong phạm vi pháp luật hình sự của một quốc gia.