mở đầu phiên toà nhằm kiểm tra các điều kiện cần thiết cho việc mở phiên toà. Thủ tục xét hỏi nhằm kiểm tra và công khai toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ; xem xét các mâu thuẫn (nếu có) của các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ; công bố bổ sung và kiểm tra các tài liệu, chứng cứ mới do các bên cung cấp tại phiên toà. Tranh luận là trình tự tố tụng mà các bên trong TTHS ( bên buộc tội và bên gỡ tội) dựa trên các chứng cứ, các qui định của pháp luật, đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng để làm rõ các vấn đề trong vụ án. Trong các trình tự tố tụng diễn ra tại phiên toà, chỉ có trình tự tranh luận là có sự diễn ra đối đáp hai chiều, có đi có lại giữa quan điểm của các bên buộc tội và gỡ tội.
Thông qua tranh luận, đối đáp, phản biện, bác bỏ quan điểm lẫn nhau để có cơ sở khẳng định quan điểm của mỗi bên. Nhìn chung, mỗi trình tự tố tụng đều có ý nghĩa pháp lý riêng trong việc nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án, tuy nhiên hoạt động tranh 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tụng của KSV là hoạt động trọng tâm tại phiên toà xét xử. - Theo các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp: Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/01/2002 của Bộ chính trị đã xác định: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. Khi xét xử, các Tòa án phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa… để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn luật định.
Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị một lần nữa yêu cầu “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt động đột phá của các cơ quan tư pháp…”[3], Nghị quyết số 37/NQ - QH13 ngày 23/11/1012, Nghị quyết số 63/NQ - QH13, ngày 27/11/2013, Nghị quyết số 111/NQ - QH13, ngày 27/11/2015 của Quốc Hội tiếp tục khẳng định “Kiểm sát viên phải chủ động, tích cực tranh luận, đối đáp tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự…Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo các Tòa án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên tòa”[4]. Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị một lần nữa xác định: “Về việc tiếp tục thực hiện mục tiêu, quan điểm, phương hướng cải cách tư pháp nêu trong Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX”[5]. Quan điểm, chủ trương của Đảng về hoạt động tranh tụng tiếp tục được thể chế hóa ở Hiến Pháp 2013.
Tại Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Như vậy, lần đầu tiên, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc bảo đảm tranh tụng trong xét xử được ghi nhận thành một nguyên tắc, thể hiện bước tiến lớn trong hoạt động xây dựng pháp luật và phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp của Nhà nước ta. Cho đến nay, tranh tụng trong TTHS không còn là vấn đề mới. Song đây vấn là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi với nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau.
Trong đó, đa phần để làm sáng tỏ khái niệm này, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến các vấn đề về mô hình tố tụng tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng, quá trình tranh tụng…tức và giải thích tranh tụng dưới góc độ khác nhau. Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm hội tụ đầy đủ ba chức năng cơ bản của TTHS là chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử. Các chức năng này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi chức năng tồn tại và vận động trong chừng mực tồn tại và vận động của chức năng kia, cạnh tranh quyết liệt nhằm thuyết phục HĐXX chấp nhận các quan điểm của mình, phản bác quan điểm của bên kia, góp phần làm sáng tỏ sự thật vụ án.
Tại phiên tòa, hoạt động tranh tụng được thực hiện ngay từ khi bắt đầu phiên tòa và kết thúc khi các bên tranh luận xong. Quá trình tranh tụng được xem là kết thúc khi bản án hay quyết định của Tòa án về vụ án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm của các chủ thể có các quyền đó. Hiện nay, trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, xử lý người phạm tội, các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án luôn luôn tuân thủ những nguyên tắc của luật hình sự nói chung, nguyên tắc công bằng nói riêng, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội và nếu “Thiếu sự cưỡng chế tư pháp hình sự sẽ không có sức mạnh, thiếu sự giáo dục tư pháp sẽ vô nhân đạo. Nhưng thiếu công bằng tư pháp nói chung sẽ không tồn tại”[28, Tr.
Chính vì vậy, tư tưởng công bằng được thể hiện xuyên suốt quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự là cơ sở trong việc bảo đảm tính khách quan, công bằng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của các bản án hình sự. Mặt khác, cần xem “tranh tụng là nguyên tắc quan trọng, nguyên tắc đặc trưng của hoạt động tư pháp và là đặc trưng nổi bật nhất của tư pháp hình sự”. Trên cơ sở chủ trương của Đảng về nâng cao chất lượng tranh tụng của KSV trong xét xử hình sự, các quy định của BLTTHS và quy định của Hiến pháp 2013, có thể hiểu: Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự là hoạt động của bên buộc tội và bên gỡ tội, dựa trên nguyên tắc bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, lập luận của mình để phản bác chứng cứ, lập luận của đối phương nhằm thuyết phục HĐXX chấp nhận quan điểm đề xuất của mình, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Từ khái kiệm trên cho ta thấy bản chất của tranh tụng được hiểu như sau: - Tranh tụng là hoạt động tố tụng hình sự, do vậy hoạt động tranh tụng phải tuân theo các qui định của Bộ luật TTHS.
- Chủ thể của tranh tụng gồm có Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng khác. Các chủ thể xuất phát từ những địa vị pháp lý khác nhau nhưng bình đẳng với nhau trong quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu, quan điểm về giải quyết vụ án. Kiểm sát viên có thể tranh tụng với người bào chữa, với bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác để làm rõ sự thật khách quan của đối tượng tranh tụng. - Hoạt động tranh tụng tại phiên toà diễn ra dưới sự điều khiển của chủ toạ phiên toà.
Chủ tọa phiên toà có quyền yêu cầu các bên tiến hành tranh tụng hoặc chấm dứt tranh tụng, điều chỉnh nội dung cũng như phương pháp tranh tụng cho phù hợp với qui định của pháp luật và sự cần thiết làm rõ các vấn đề của vụ án. - Mục tiêu của hoạt động tranh tụng là nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Sự thật khách quan này bao gồm sự thật như nó đã diễn ra trên 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực tế và được nhìn nhận, đánh giá dưới góc độ pháp lý (dưói góc độ đánh giá trên cơ sở pháp luật hình sự và TTHS). - Đối tượng của hoạt động tranh tụng là các quan điểm, luận cứ và luận chứng của các bên đưa ra trong việc giải quyết vụ án.
- Cách thức tranh tụng là các bên chủ thể tranh tụng sử dụng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như chứng cứ mới cung cấp đã được kiểm tra tại phiên tòa, các qui định của pháp luật hiện hành để làm rõ các đối tượng tranh tụng. Dưới góc độ coi tranh tụng là hoạt động tư duy, nhận thức; bản chất của tranh tụng có các nội dung sau: - Tranh tụng được tiến hành trên cơ sở tư duy logic hình thức. Các bên tranh tụng có thể sử dụng các kỹ năng tranh tụng khác nhau để khẳng định quan điểm của mình, bác bỏ quan điểm hoặc thừa nhận quan điểm của bên tranh tụng đối lập. - Tranh tụng không chỉ là quyền, là trách nhiệm của các bên tham gia tranh tụng mà còn là một phần của sự thật khách quan của vụ án.
Nói cách khác, tranh tụng không chỉ là phương tiện để đạt được sự thật khách quan mà tranh tụng còn là một phần của sự thật khách quan của vụ án. Chân lý về vụ án phải tìm thấy, có được thông qua tranh tụng. Tất nhiên, thuộc tính này của tranh tụng là xét về nguyên tắc. Với những vụ án mà bị cáo nhận tội và có đủ chứng cứ để khẳng định lời nhận tội của bị cáo là có cơ sở, tại phiên toà không có những quan điểm xung đột thì không phát sinh tranh tụng hoặc nếu có thì chỉ ở mức độ nhất định [40].
- Về nguyên tắc tranh tụng: Nguyên tắc là tư tưởng có giá trị làm nền tảng, làm cơ sở cho những thiết chế và hoạt động. Nguyên tắc trong một quan hệ pháp luật tố tụng là những tư tưởng pháp lý làm nền tảng, làm cơ sở cho việc xây dựng và thực thi pháp luật trong lĩnh vực tố tụng đó. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”, đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, tranh tụng được ghi nhận là một nguyên tắc. Vấn đề là cụ thể hoá nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS như thế nào? Nguyên tắc này có những nội dung gì? Phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc này?.là những vấn đề đang được nghiên cứu, xây dựng BLTTHS sửa đổi, bổ sung.