Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tranh tụng của KSV tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Chương 2: Thực tiễn tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự sơ thẩm tỉnh Thái Nguyên. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng của KSV tại phiên tòa hình sự sơ thẩm tỉnh Thái Nguyên. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM 1.
Khái niệm, đặc điểm tranh tụng 1. Khái niệm tranh tụng Theo Đại từ điển Tiếng Việt năm 1998 thì “tranh tụng” có nghĩa là “kiện tụng”, Theo Hán - Việt tự điển thì “tranh tụng” có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy lẽ phải”. Trong tiến Anh, tranh tụng là “Adversrial”, có nghĩa là đối kháng, đương đầu. Tranh tụng diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau như tranh tụng trong tố tụng dân sự, tranh tụng trong tố tụng hành chính, kinh doanh thương mại, lao động… Trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ đề cập đến tranh tụng trong tố tụng hình sự.
Hệ thống tư pháp nước ta được tổ chức và hoạt động theo truyền thống luật Châu Âu lục địa. Tức là hệ thống luật sử dụng mô hình tố tụng xét hỏi. Do đó, trước năm 2002 thuật ngữ „tranh tụng” chưa từng được sử dụng trong các văn bản pháp luật của nước ta. Sau khi Bộ luật TTHS năm 1988 ra đời, vấn đề tranh tụng đã được đề cập đến trong các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành.
Đặc biệt, Nghị Quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định rằng: “Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng; tham gia hỏi cung; nghiên cứu hồ sơ vụ án; tranh luận dân chủ tại phiên tòa …Nâng cao chất lượng công tố của KSV tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… Khi xét xử Tòa án phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc xét xử của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét 7 đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của KSV, của người bào chữa, bị cáo…”. Nghị quyết số 49–NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị một lần nữa yêu cầu “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của các cơ quan tư pháp…” [3] Nghị quyết số 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012 tiếp tục khẳng định “ KSV phải chủ động, tích cực tranh luận, đối đáp tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự …TANDTC chỉ đạo các Tòa án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên tòa” [4]. Quan điểm, chủ trương của Đảng về hoạt động tranh tụng tiếp tục được thể chế hóa ở Hiến Pháp 2013. Tại Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.
Như vậy, lần đầu tiên, việc bảo đảm tranh tụng trong xét xử được ghi nhận thành một nguyên tắc, thể hiện bước tiến lớn trong hoạt động xây dựng pháp luật và phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp của Nhà nước ta. Cho đến nay, tranh tụng trong TTHS không còn là vấn đề mới. Song đây vấn là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi với nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau. Trong đó, đa phần để làm sáng tỏ khái niệm này, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến các vấn đề về mô hình tố tụng tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng, quá trình tranh tụng…tức và giải thích tranh tụng dưới góc độ khác nhau.
Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm hội tụ đầy đủ ba chức năng cơ bản của TTHS là chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử. Các chức năng này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi chức năng tồn tại và vận động trong chừng mực tồn tại và vận động của chức năng kia, cạnh tranh quyết liệt nhằm thuyết phục HĐXX chấp nhận các quan điểm của mình, phản bác quan điểm của bên kia, góp phần làm sáng tỏ sự thật vụ án. Tại phiên tòa, hoạt động tranh tụng được thực hiện ngay từ khi bắt đầu phiên tòa và kết thúc khi các bên tranh 8 luận xong.
Quá trình tranh tụng được xem là kết thúc khi bản án hay quyết định của Tòa án về vụ án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm hay tái thẩm của các chủ thể có các quyền đó. Hiện nay, trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, xử lý người phạm tội, các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án luôn luôn tuân thủ những nguyên tắc của luật hình sự nói chung, nguyên tắc công bằng nói riêng, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội và nếu “Thiếu sự cưỡng chế tư pháp hình sự sẽ không có sức mạnh, thiếu sự giáo dục tư pháp sẽ vô nhân đạo. Nhưng thiếu công bằng tư pháp nói chung sẽ không tồn tại” [28, tr. Chính vì vậy, tư tưởng công bằng được thể hiện xuyên suốt quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự là cơ sở trong việc bảo đảm tính khách quan, công bằng của các bản án hình sự.
Mặt khác, cần xem “tranh tụng là nguyên tắc quan trọng, nguyên tắc đặc trưng của hoạt động tư pháp và là đặc trung nổi bật nhất của tư pháp hình sự”. Trên cơ sở chủ trương của Đảng về nâng cao chất lượng tranh tụng của KSV trong xét xử hình sự, các quy định của BLTTHS và quy định của Hiến pháp 2013, có thể hiểu: Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự là hoạt động của bên buộc tội và bên gỡ tội, dựa trên nguyên tắc bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, lập luận của mình để phản bác chứng cứ, lập luận của đối phương nhằm thuyết phục HĐXX chấp nhận quan điểm đề xuất của mình, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Từ khái kiệm trên cho ta thấy bản chất của tranh tụng được hiểu như sau: + Tranh tụng là hoạt động tố tụng hình sự, do vậy hoạt động tranh tụng phải tuân theo các quy định của BLTTHS. + Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa diễn ra dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa.
Chủ tọa phiên tòa có quyền yêu cầu các bên tiến hành tranh 9 tụng hoặc chấm dứt tranh tụng, điều chỉnh nội dung cũng như phương pháp tranh tụng cho phù hợp với quy định của pháp luật và sự cần thiết làm rõ các vấn đề của vụ án. Chủ tọa phiên tòa là người trọng tài và qua phiên tòa xác định xem “sự thật” của ai thuyết phục hơn để qua đó phán xét, quyết định. + Chủ thể của tranh tụng gồm có KSV và người tham gia tố tụng khác. Các chủ thể xuất phát từ những địa vị pháp lý khác nhau nhưng bình đẳng với nhau trong quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu, quan điểm về giải quyết vụ án.
KSV có thể tranh tụng với người bào chữa, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. + Đối tượng của hoạt động tranh tụng là các quan điểm của các bên đưa ra trong việc giải quyết vụ án. + Mục tiêu của hoạt động tranh tụng là nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Sự thật khách quan này gồm sự thật đã diễn ra thực tế và được nhìn nhận, đánh giá dưới góc độ pháp lý (dưới góc độ đánh giá trên cơ sở pháp luật hình sự và TTHS).
+ Tranh tụng được tiến hành trên cơ sở tư duy logic hình thức. Các bên tranh tụng có thể sử dụng các kỹ năng tranh tụng khác nhau để khẳng định quan điểm của mình, bác bỏ quan điểm hoặc thừa nhận quan điểm của bên tranh tụng đối lập. + Cách thức tranh tụng là các bên chủ thể tranh tụng sử dụng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như những chứng cứ mới đưa ra đã được kiểm tra tại phiên tòa dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành để làm rõ các đối tượng tranh tụng. + Tranh tụng không chỉ là quyền, trách nhiệm của các bên tham gia tranh tụng.
Chân lý về vụ án phải tìm thấy, có được thông qua tranh tụng. Tất nhiên, thuộc tính này của tranh tụng là xét về nguyên tắc. Với những vụ án mà bị cáo nhận tội và có đủ chứng cứ để khẳng định lời nhận tội của bị cáo là 10 có cơ sở, tại phiên toà không có những quan điểm xung đột thì không phát sinh tranh tụng hoặc nếu có thì chỉ ở mức độ nhất định [40]. Đặc điểm tranh tụng Tranh tụng tại phiên tòa xet xử án hình sự có một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất: Phải đảm bảo quyền bình đẳng giữa KSV với những người tham gia tố tụng khác.
Hội đồng xét xử phải tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng trình bày đầy đủ ý kiến của mình và HĐXX phải chú ý lắng nghe và tôn trọng lẽ phải của KSV thực hành quyền công tố qua lời trình bày luận tội, những căn cứ để buộc tội và các ý kiến phản biện của bị cáo, người bị hại, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác. Thứ hai: Hoạt động xét xử phải bảo đảm tranh tụng giữa KSV với những người tham gia tố tụng khác, tranh tụng là trọng tâm của hoạt động xét xử. Các bên tranh tụng bình đẳng với nhau về quyền đưa ra tài liệu, chứng cứ, yêu cầu; đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng của mình; bình đẳng trong đối đáp, tranh luận, chứng minh, bác bỏ quan điểm lẫn nhau. Do đó quyền bình đẳng giữa bên bào chữa và bên buộc tội được hiểu là bình đẳng trên phương diện tố tụng khi tham gia phiên tòa, đều được pháp luật quy định để thực hiện các chức năng của mình.
Thứ ba: Tại phiên tòa HĐXX phải có phương pháp điều hành hợp lý, tạo điều kiện cho bên buộc tội và bào chữa là Luật sư tranh luận không hạn chế về mặt thời gian, tránh việc thiên vị đối với bất cứ bên nào. Tạo cơ sở cho các bên tranh luận đưa ra các chứng cứ buộc tội, gỡ tội.