mở đầu cho một giai đoạn quay ngược hoàn toàn với quan điểm truyền thống về tăng trưởng kinh tế của lí thuyết cổ điển. Về chất lượng tăng trưởng kinh tế, đóng góp lí thuyết của Keynes là đề cao vai trò của chính phủ. Theo đó, ngoài những yếu tố góp phần làm tăng trưởng kinh tế thì chính phủ đóng vai trò rất quan trọng. Một chính phủ có những chính sách phù hợp thì có thể làm cho nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao mà không cần tăng vốn, lao động hoặc tài nguyên… Tuy nhiên, lí thuyết Keynes còn một số hạn chế như thiếu khả năng giải thích được những vấn đề tăng trưởng dài hạn.
Hạn chế đó đã được các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu và phát triển thành lí thuyết kinh tế hậu Keynes [26, tr. Dựa vào lí thuyết của Keynes, Chính phủ các nước đã sử dụng chính sách kinh tế để hạn chế mức độ lạm phát và thất nghiệp, làm tăng mức sản lượng tiềm năng. Nhưng sau một thời gian dài, các nước lại có xu hướng quá nhấn mạnh vai trò của chính sách kinh tế, do đó, hạn chế mức độ tự điều chỉnh của thị trường và xuất hiện những trở ngại mới cho quá trình tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, một trường phái kinh tế mới ra đời.
Các nhà kinh tế của trường phái này ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp, trong đó thị trường trực tiếp xác định quan hệ cung-cầu và những quan hệ cơ bản khác của nền kinh tế, còn Nhà nước tham gia điều tiết có mức độ nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường. Thực chất của trường phái kinh tế hiện đại là sự xích gần nhau của trường phái tân cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes. Đại diện xuất sắc cho trường phái kinh tế hiện đại là P. Nếu các nhà kinh tế học của phái cổ điển và cổ điển mới say sưa với lí thuyết “Bàn tay vô hình”, trường phái Keynes cổ vũ cho học thuyết “bàn tay nhà nước”, thì Samuelson chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào cả “hai bàn tay”- đó là cả thị trường và nhà nước.
Theo Ông cho rằng “điều hành một nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị trường cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay”. Lí thuyết kinh tế hiện đại có một số điểm mới so với các học thuyết tăng trưởng kinh tế trước đó. Theo Samuelson, ngoài các yếu tố vật chất như vốn, đất đai, lao động, tài 7 nguyên trực tiếp tác động đến tăng trưởng kinh tế, yếu tố tiến bộ công nghệ ngày càng trở nên quyết định đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Lí thuyết hiện đại cũng xác định rõ mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất.
Samuelson cho rằng một trong những đặc trưng quan trọng của kinh tế hiện đại là “kĩ thuật công nghiệp tiên tiến hiện đại dựa vào việc sử dụng vốn lớn”. Do đó, vốn là cơ sở để phát huy tác dụng của các yếu tố khác: vốn là cơ sở để tạo việc làm và có công nghệ tiên tiến. Vì vậy, trong tính toán kinh tế ngày nay, hệ số ICOR vẫn được coi là cơ sở để xác định tỉ lệ đầu tư cần thiết phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Lí thuyết tăng trưởng hiện đại cũng khẳng định: vai trò ngày càng tăng của Nhà nước trong điều tiết kinh tế.
Theo Samuelson, trong nền kinh tế hỗn hợp hiện đại, chính phủ có 4 chức năng cơ bản: thiết lập khuôn khổ pháp luật, xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, tác động vào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế, thiết lập các chương trình tác động đến việc phân phối thu nhập. Theo ông, Chính phủ cần tạo ra môi trường ổn định để cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình tiến hành sản xuất và trao đổi sản phẩm một cách thuận lợi. Các lí thuyết về tăng trưởng nêu trên đều cố gắng giải thích những yếu tố vật chất, hay những yếu tố về lượng quyết định quá trình tăng trưởng kinh tế. Tóm lại, có 4 yếu tố chủ yếu quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế: đó là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, mức độ tích luỹ vốn lớn, sự đổi mới công nghệ.
Cho đến đầu những năm 1980, tăng trưởng dựa vào tốc độ, quy mô, số lượng được coi là mục tiêu hàng đầu của các quốc gia. Tuy nhiên, đến đầu thập kỉ 1990, tốc độ tăng trưởng cao ở một số quốc gia đang phát triển đã chậm lại, một số quốc gia còn đạt tốc độ tăng trưởng âm (châu Phi)… [72, tr.36] sự phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng lên, sự tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với với nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt và suy thoái môi trường… Thực tế đó đã đặt dấu hỏi lớn cho các nhà khoa học. Vậy, có phải tăng trưởng ngắn hạn là không bền vững, không đảm bảo cho một sự tăng trưởng trong dài hạn? Quá trình tăng trưởng trong thời gian qua có phải chỉ chú ý đến chiều rộng, chưa chú ý đến chiều sâu? Quá trình tăng trưởng vừa qua chưa mang tính chất lượng…? Kể từ đó, trên diễn đàn kinh tế, bắt đầu xuất hiện khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế. 8 Nhằm phát triển các khái niệm trước đó, năm 2000, Vinod Thomas và cộng sự (Oxford Universiti Press) [90, tr.102], trong Nghiên cứu “Chất lượng tăng trưởng kinh tế,” đã đưa ra những luận cứ về số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế bền vững, các tác giả không nghiên cứu một cách trực diện, mà thực hiện gián tiếp, đi từ khía cạnh chất lượng của tăng trưởng. Theo các tác giả, để có tăng trưởng bền vững cần phải duy trì tăng trưởng trong dài hạn và đồng thời chú trọng tới hai mặt của tăng trưởng, đó là số lượng và chất lượng. Các tác giả đã phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng và minh họa qua các phân tích, số liệu thực tiễn của nhiều nước trên thế giới. Theo các tác giả: “Chất lượng tăng trưởng kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế với nhịp độ tương đối cao, diễn ra liên tục trong một thời gian dài, đồng thời sự tăng trưởng đó phải bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội và cải thiện môi trường” (Vinod Thomas và cộng sự, 2000, tr.
Định nghĩa này chỉ ra rằng, một nền kinh tế phát triển theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng phải bảo đảm 3 nội dung cơ bản là kinh tế, xã hội và môi trường: (1). Về khía cạnh kinh tế, đó là sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và phải được duy trì liên tục trong dài hạn; (2). Khía cạnh xã hội yêu cầu sự tăng trưởng kinh tế phải đóng góp trực tiếp vào cải thiện một cách bền vững phúc lợi xã hội, cụ thể là phân phối thành quả của phát triển và xóa đói giảm nghèo; (3). Khía cạnh môi trường đòi hỏi sự tăng trưởng kinh tế không những không làm xuống cấp mà còn phải góp phần cải thiện chất lượng môi trường.
Như vậy, với quan điểm này, tăng trưởng kinh tế được nhìn nhận toàn diện hơn và được nâng lên một bước so với trước. Tuy định nghĩa trên đây đã nêu lên được các đặc trưng của tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định. Đó là không nêu ra được, những tiêu chí hay nhóm các tiêu chí để từ đó có thể tiến hành phân tích đánh giá chất lượng tăng trưởng của một nền kinh tế. Hạn chế này có thể được bổ sung bởi các nghiên cứu của một số nhà kinh tế học nổi tiếng như Lucas (1993), Sen (1999), Stigliz (2000).
Theo đó, chất lượng tăng trưởng biểu hiện tập trung ở một số tiêu chí chủ yếu sau: (1). Sự đóng góp ngày càng cao của yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) để đảm bảo duy trì được tốc độ tăng trưởng dài hạn và hạn chế được những tác động của yếu tố bên ngoài tới quá trình phát triển kinh tế trong 9 nước; (2). Hiệu quả sử dụng các nguồn lực như vốn, lao động. ngày càng cao; (3).
Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng cao; tính ổn định trong tăng trưởng kinh tế ngày càng bền vững. Cơ cấu kinh tế ngày càng phát triển theo hướng chất lượng và hiện đại; (4). Tăng trưởng kinh tế có chất lượng là tăng trưởng đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển xã hội, cải thiện và tăng cường phúc lợi cho người dân, giảm tỉ lệ và số lượng người đói, nghèo; tăng cường dân chủ xã hội. Tăng trưởng kinh tế có chất lượng là tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ và phát triển môi trường sinh thái, tức là tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển bền vững [89, tr.
Lí thuyết về chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng được sự quan tâm đặc biệt của các tổ chức quốc tế. Trong các báo cáo phát triển con người, UNDP [63, tr.8] lần đầu tiên đã đưa ra một số khái niệm khác nhau về sự tăng trưởng như tăng trưởng mất gốc, tăng trưởng không tương lai… Điểm chung của các khái niệm này chỉ xoay quanh một vấn đề, đó là tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với chất lượng. Sự tăng trưởng kinh tế chỉ chú trọng vào tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian ngắn, không chú trọng đến năng suất, hiệu quả, khả năng cạnh tranh… là sự tăng trưởng kinh tế kém bền vững. Sự tăng trưởng kinh tế mà không đem lại điều kiện sống tốt hơn cho phần đông người nghèo, không gắn liền với sự cải thiện về dân chủ, đạo đức xã hội bị suy thoái là tăng trưởng mất gốc.
Sự tăng trưởng kinh tế nhưng huỷ hoại môi trường sống của con người là sự tăng trưởng không tương lai…tăng trưởng cần gắn với chất lượng, phát triển phải bền vững, chú trọng tới tất cả ba thành tố: kinh tế, xã hội và môi trường. Tóm lại, chất lượng tăng trưởng kinh tế đã được các học giả nước ngoài đề cập đến từ lâu và việc tiếp cận nghiên cứu được bắt đầu từ tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở lí luận đó, tăng trưởng kinh tế được coi là mục tiêu hàng đầu cho tất cả các quốc gia trong quá trình phát triển. Trong một thời gian dài, hầu hết các nước đều tập trung hết nguồn lực phục vụ tăng trưởng kinh tế thông qua tăng tích lũy tài sản vốn vật chất, thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ tăng trưởng.
Tuy nhiên, thực tiễn tăng trưởng nhanh lại không đạt được những mục tiêu mà các quốc gia này kì vọng.