Chương 1: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển kinh tế tƣ nhân Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2001 – 2010 Chương 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp phát triển kinh tế tƣ nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2011 – 2020 4 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN 1. KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG CỦA NHÂN LOẠI 1. Đặc điểm của kinh tế thị trƣờng nhìn từ góc độ sở hữu Lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời là lịch sử phát triển không ngừng của lực lƣợng sản xuất và phân công lao động xã hội, đồng thời cũng là quá trình thay thế lẫn nhau của các phƣơng thức sản xuất xã hội. Nhƣng bất cứ nền sản xuất xã hội nào cũng đều phải giải quyết ba vấn đề cơ bản: Sản xuất cái gì, sản xuất nhƣ thế nào, sản xuất cho ai? Để giải quyết những vấn đề này, về cơ bản, có ba kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, đó là kinh tế tự nhiên, kinh tế kế hoạch hóa tập trung và kinh tế hàng hóa mà giai đoạn phát triển cao của nó là kinh tế thị trƣờng.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, trên cơ sở phân công lao động xã hội phát triển và sự tách biệt về kinh tế của những ngƣời sản xuất. Đó là phƣơng thức tổ chức hoạt động kinh tế - xã hội, ở đó ngƣời sản xuất ra sản phẩm không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình, mà nhằm để trao đổi, để bán trên thị trƣờng. Kinh tế hàng hóa ra đời từ rất sớm và đã từng tồn tại trong nhiều phƣơng thức sản xuất. Hình thức đầu tiên của nó là kinh tế hàng hóa giản đơn, đã đƣợc hình thành và phát triển từng bƣớc trong xã hội chiếm hữu nô lệ, và tiếp tục phát triển cao hơn trong xã hội phong kiến.
Khi quan hệ hàng hóa – tiền tệ phát triển mạnh trong thời kỳ tan rã của phƣơng thức sản xuất phong kiến, một số nƣớc tiên tiến nhất ở Tây Âu đã đi đầu trong việc quá độ sang chủ nghĩa tƣ bản. Đây cũng là quá trình chuyển từ kinh tế hàng hóa giản đơn sang kinh tế hàng hóa tƣ bản chủ nghĩa. Với sự ra đời và 5 phát triển của chủ nghĩa tƣ bản, kinh tế hàng hóa giản đơn phát triển thành kinh tế thị trƣờng. Kinh tế thị trƣờng nhƣ chúng ta đã biết là kinh tế hàng hóa đạt đến trình độ xã hội hóa cao và trình độ kỹ thuật cao, trong đó toàn bộ hay hầu hết các yếu tố đầu vào và đầu ra của nền sản xuất xã hội đều phải thông qua thị trƣờng.
Kinh tế thị trƣờng tồn tại trong xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến, trong chế độ tƣ bản chủ nghĩa và cả trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong các thời kỳ lịch sử và ở những nƣớc khác nhau, kinh tế thị trƣờng có những đặc điểm riêng cụ thể; nhƣng dù ở đâu và lúc nào cũng phải vận động, phát triển theo những nguyên tắc phổ biến có tính quy luật, trong đó nổi bật là: tự do trong sản xuất kinh doanh (tự do đầu tƣ), tự do trong quan hệ trao đổi (tự do thƣơng mại), tự do trong tiêu dùng (mua hàng hóa hay không mua, mua ở đâu, của ai là do ngƣời tiêu dùng tự quyết định); cạnh tranh trong nội bộ từng ngành, cạnh tranh giữa các ngành bên trong nền kinh tế thị trƣờng của một nƣớc, cạnh tranh giữa các nƣớc cùng sử dụng phƣơng tiện kinh tế thị trƣờng… Lịch sử phát triển của nền kinh tế thị trƣờng đến nay cho thấy nó có mặt ở nhiều chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, mà điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của nó là sự hiện diện của nhiều hình thức sở hữu. Sở hữu là quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời trong quá trình sản xuất, phản ánh quá trình chiếm hữu của cải vật chất, mà ở đó sở hữu về tƣ liệu sản xuất giữ vai trò quyết định. Sở hữu là mặt cơ bản của quan hệ sản xuất, vận động và biến đổi cùng với hệ thống kinh tế - xã hội, đặc biệt là có quan hệ mật thiết với quá trình phát triển của lực lƣợng sản xuất xã hội.
Khi nhà nƣớc xuất hiện, các quan hệ sở hữu đƣợc thể chế hoá bằng pháp luật, hình thành nên chế độ sở hữu. Chế độ sở hữu quy định các quyền: sử dụng, định đoạt, chuyển nhƣợng, cho thuê, thừa kế, thế chấp…, và là cơ sở kinh tế và pháp lý để bảo đảm việc thực hiện các lợi ích của các chủ thể kinh 6 tế. Quan hệ sở hữu còn chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội gắn liền với quan hệ tổ chức - quản lý; với quan hệ phân phối thông qua các lợi ích kinh tế. Hình thức sở hữu là cơ sở khách quan của chế độ sở hữu tƣơng ứng với những trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất.
Xã hội loài ngƣời đã trải qua nhiều hình thức sở hữu khác nhau, từ sở hữu bộ lạc đến các hình thức sở hữu tƣ nhân và sở hữu xã hội. Trên thực tế, cho đến nay, chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu công cộng, sở hữu tƣ nhân (sở hữu tƣ nhân nhỏ và sở hữu tƣ nhân tƣ bản chủ nghĩa), sở hữu hỗn hợp. Trong một hình thái kinh tế - xã hội, sự tồn tại cùng lúc nhiều hình thức sở hữu là một tất yếu khách quan. Sự tác động lẫn nhau giữa sở hữu và các hình thức kinh tế đƣợc nối liền qua khâu trung gian là lợi ích kinh tế.
Sự tƣơng tác lẫn nhau giữa các lợi ích điều chỉnh các hình thức sở hữu cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất, khơi dậy động lực, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Sở hữu không phải là động lực trực tiếp nhƣng chính quan hệ sở hữu lại quyết định bản chất, cơ cấu hệ thống lợi ích kinh tế và trở thành nguồn gốc sâu xa của động lực kinh tế. Nhƣ vậy, xét từ góc độ sở hữu thì kinh tế thị trƣờng có những đặc điểm sau: - Kinh tế thị trường tất yếu phải dựa trên sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, trong đó quan trọng nhất là sở hữu tư nhân. Lịch sử phát triển của kinh tế thị trƣờng cho thấy nó có mặt ở nhiều chế độ kinh tế - xã hội khác nhau mà điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của nó là sự hiện diện của nhiều hình thức sở hữu.
Trong một nền kinh tế, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều chủ thể kinh tế, sẽ tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển. Động lực chung của mọi nền kinh tế thị trƣờng là lợi ích kinh tế - nói cách khác, là lợi nhuận. Khả năng tạo ra lợi nhuận cao hay thấp lại phụ thuộc chặt chẽ vào tính hợp lý và minh bạch của quan hệ sở hữu. Khi các nguồn lực đầu tƣ là sở hữu của tƣ nhân, thì các nhà đầu tƣ tƣ nhân phải 7 bằng mọi cách để bảo đảm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó nhằm tạo ra lợi nhuận và lợi nhuận siêu ngạch.
Lịch sử của kinh tế thị trƣờng hơn 200 năm qua ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa phát triển cho thấy, khu vực kinh tế tƣ nhân bao giờ cũng có hiệu quả cao hơn so với khu vực kinh tế nhà nƣớc trong việc sử dụng các nguồn lực đầu tƣ. - Bắt nguồn từ tính xác định và minh bạch của quan hệ sở hữu, lợi ích kinh tế được hình thành và trở thành động lực thúc đẩy các chủ thể kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh. Với tƣ cách là ngƣời sở hữu, mọi chủ thể hoạt động trong kinh tế thị trƣờng đều hƣớng vào mục tiêu lợi ích mà trƣớc hết là lợi ích kinh tế của chính mình. Bởi vậy, trong nền kinh tế thị trƣờng lợi nhuận đƣợc coi là mục đích, là động lực của hoạt động kinh doanh và cạnh tranh là môi trƣờng và điều kiện tất yếu.
- Trên cơ sở tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, đặc biệt là sở hữu tư nhân, cơ chế thị trường hình thành và chịu sự chi phối, điều tiết của các quy luật kinh tế: quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lƣu thông tiền tệ… - Do được đảm bảo về phương diện sở hữu, các chủ thể thị trường đều có tính độc lập. Ngƣời sản xuất – kinh doanh có quyền tự do kinh doanh, tự chủ trong việc ra các quyết định sản xuất cái gì, sản xuất nhƣ thế nào và sản xuất cho ai; họ có quyền tự quyết định lựa chọn loại hình tổ chức và quản lý sản xuất – kinh doanh thích hợp; độc lập trong gánh vác rủi ro và tự chịu trách nhiệm lỗ - lãi trong sản xuất kinh doanh; theo đó, họ phải lấy lợi nhuận làm động lực và mục tiêu của hoạt động kinh tế. Còn ngƣời tiêu dùng đƣợc chủ động trong lựa chọn hàng hóa trên thị trƣờng và đƣợc xem là “thƣợng đế”, ngƣời quyết định “ bỏ phiếu” cho việc mở rộng hay thu hẹp việc sản xuất, kinh doanh một mặt hàng nào đó. 8 - Tính đa sở hữu là cơ sở để thị trường giữ vai trò quyết định phân bổ các nguồn lực của xã hội.
Các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất phải đƣợc lƣu thông tự do trên thị trƣờng. Muốn vậy, hệ thống thị trƣờng các loại phải đƣợc hình thành đồng bộ và vận hành trôi chảy theo tín hiệu của thị trƣờng, gồm: Thị trƣờng tƣ liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và các sản phẩm dịch vụ; thị trƣờng tài chính; thị trƣờng sức lao động; thị trƣờng đất đai và bất động sản; thị trƣờng khoa học và công nghệ… Để các thị trƣờng này vận hành thông suốt và làm tròn chức năng quyết định phân phối tài nguyên thì phải có chủ thể thị trƣờng đông đảo, nhằm khắc phục tình trạng cơ cấu độc quyền từ phía ngƣời bán hoặc từ phía ngƣời mua. Điều đó gắn liền với hệ thống pháp luật đảm bảo quyền tự do sản xuất – kinh doanh và tự do tiêu dùng của các chủ thể thị trƣờng.