Tổng quan nghiên cứu

Tiến trình đổi mới và cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nước tại tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 1998–2010 đã ghi nhận những kết quả bước đầu với việc sắp xếp, chuyển đổi 118 doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, tính đến thời điểm năm 2011, trên địa bàn tỉnh vẫn còn duy trì 15 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước và 1 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối trên 50%. Khu vực này đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: quy mô vốn chủ sở hữu còn khiêm tốn ở mức khoảng 2.477 triệu đồng, tỷ suất lợi nhuận trên vốn thấp, công nợ thuế kéo dài lên đến 2.492 triệu đồng và tiến độ cổ phần hóa gần như đóng băng suốt giai đoạn 2007–2011. Trong bối cảnh Hà Tĩnh chuyển mình mạnh mẽ với Khu kinh tế Vũng Áng nằm trong nhóm 5 khu kinh tế ven biển trọng điểm quốc gia và quy mô vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vươn lên vị trí thứ 7 toàn quốc, việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trở thành đòi hỏi cấp thiết nhằm tối ưu hóa các nguồn lực công.

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng sắp xếp doanh nghiệp và nhận diện các nguyên nhân cốt lõi gây suy giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh tại địa phương. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước do Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quản lý trong khung thời gian 1998–2013, từ đó hoạch định hệ thống giải pháp định hướng cho giai đoạn 2014–2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Đóng góp nổi bật của công trình là cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để nâng cao năng lực quản trị, thúc đẩy cổ phần hóa gắn với thị trường, đồng thời bảo đảm mục tiêu an sinh và gia tăng thu nhập cho người lao động từ 1,5 đến 3 lần sau tái cấu trúc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế học thể chế, lý thuyết quản trị công hiện đại và mô hình quản trị công ty theo các nguyên tắc của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD năm 2004). Khung lý thuyết tập trung vào 5 khái niệm cốt lõi: Doanh nghiệp nhà nước (được xác định theo Luật Doanh nghiệp 2005 với tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước trên 50%), Tái cơ cấu doanh nghiệp (quá trình điều chỉnh cấu trúc sở hữu, tài chính, tổ chức và quản trị), Cổ phần hóa, Doanh nghiệp công ích và Thoái vốn đầu tư ngoài ngành.

Bên cạnh các cơ sở lý luận trong nước theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX, công trình vận dụng sâu sắc mô hình quản lý và giám sát tài sản nhà nước qua bài học thực tiễn 4 giai đoạn cải cách của Trung Quốc từ năm 1979 đến nay. Trọng tâm là mô hình Ủy ban Quản lý và Giám sát Tài sản Nhà nước (SASAC thành lập năm 2003) với 3 trụ cột tái cấu trúc then chốt: tái cấu trúc tài chính và xử lý nợ xấu, chuẩn hóa hệ thống quản trị hiện đại với tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập tối thiểu 33,3%, và hiện đại hóa công tác quản trị nguồn nhân lực theo cơ chế thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với 118 doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện sắp xếp đổi mới giai đoạn 1998–2010, phân tích chuyên sâu 15 doanh nghiệp giữ 100% vốn nhà nước năm 2011–2013 và khảo sát 39 doanh nghiệp sau cổ phần hóa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Quy mô mẫu bao quát toàn diện các loại hình từ công ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên công ích đến các công ty cổ phần có vốn góp nhà nước.

Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập từ hệ thống báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo tổng hợp của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Chi cục Thuế và Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, kết hợp số liệu thống kê liên quan từ cuộc khảo sát 63.000 doanh nghiệp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian trước và sau cổ phần hóa, kết hợp đánh giá định tính các quy định pháp luật như Nghị định số 151/2013/NĐ-CP và Nghị quyết số 30-NQ/TW. Việc lựa chọn kết hợp các phương pháp này giúp phản ánh trung thực biến động về doanh thu, lợi nhuận, thu nhập người lao động, đồng thời làm rõ căn nguyên thể chế đằng sau những hạn chế trong quản lý tài sản công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước tại Hà Tĩnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng cũng bộc lộ những hạn chế đáng kể qua các số liệu thống kê:

Thứ nhất, chuyển đổi sở hữu qua hình thức cổ phần hóa mang lại bước tiến vượt bậc về hiệu quả kinh tế và thu nhập của người lao động. Trong 45 doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa, đa số đơn vị đều ghi nhận mức tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận ấn tượng. Thu nhập bình quân của người lao động tại Công ty Cổ phần Gạch ngói Cầu Họ tăng từ 0,85 triệu đồng lên 3,4 triệu đồng/tháng (tăng 300%); Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Công trình Giao thông tăng từ 1,64 triệu đồng lên 3,8 triệu đồng/tháng (tăng 131,7%); Công ty Cổ phần Thương mại Hà Tĩnh đạt doanh thu 33.065 triệu đồng và thu nhập bình quân đạt 3,5 triệu đồng/tháng so với mức 1,1 triệu đồng trước chuyển đổi.

Thứ hai, tốc độ thực hiện cổ phần hóa rơi vào tình trạng đình trệ trong giai đoạn 2007–2011 khi không có thêm doanh nghiệp nhà nước nào được chuyển đổi sở hữu. Quá trình sắp xếp chủ yếu diễn ra theo bề rộng với 17 đơn vị sáp nhập, 13 đơn vị giải thể, 8 đơn vị chuyển thành đơn vị sự nghiệp và 4 đơn vị phá sản, chưa tạo ra chuyển biến căn bản về chất đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn.

Thứ ba, khối 15 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoạt động kém hiệu quả, phân bổ phân tán với 7 công ty thủy nông, 2 công ty lâm nghiệp, 2 công ty môi trường đô thị, 1 công ty cấp nước, 1 công ty xổ số và 1 trung tâm đăng kiểm. Đánh giá xếp loại năm 2011 cho thấy có 10 doanh nghiệp xếp loại A, 4 doanh nghiệp loại B và 1 doanh nghiệp loại C, nhưng tỷ suất lợi nhuận nhìn chung rất thấp. Tình trạng nợ thuế tồn đọng lên tới 2.492 triệu đồng, tiêu biểu như Công ty Cổ phần Xây dựng và Đầu tư nợ 1.020 triệu đồng, Công ty Cổ phần Xây dựng Cầu đường nợ 971 triệu đồng; cá biệt có doanh nghiệp mất cân đối tài chính nghiêm trọng dẫn đến phá sản như Công ty Cổ phần Xây dựng Thủy lợi II.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý chậm đổi mới, tư tưởng bao cấp, ỷ lại còn nặng nề và sự lúng túng trong xác định giá trị quyền sử dụng đất, giá trị thương hiệu khi cổ phần hóa. Trình độ đội ngũ quản trị là điểm nghẽn lớn, phản ánh qua bức tranh chung của ngành khi có tới 43% lãnh đạo doanh nghiệp có trình độ học vấn từ phổ thông trung học trở xuống, 63% doanh nghiệp gặp khó khăn trong tuyển dụng và 55% khó giữ chân nhân sự chất lượng cao.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa sinh động qua hai công cụ chính: biểu đồ cột kép so sánh chỉ tiêu thu nhập bình quân và lợi nhuận trước - sau cổ phần hóa tại 39 doanh nghiệp mẫu, cùng biểu đồ tròn phân bổ cơ cấu ngành nghề của 15 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (trong đó lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy nông chiếm áp đảo với hơn 60% tổng số đơn vị).

So sánh với các nghiên cứu tại các địa phương lân cận và bài học quốc tế, việc chậm trễ tách bạch giữa quyền quản lý hành chính nhà nước và quyền đại diện chủ sở hữu vốn là nguyên nhân chủ chốt làm thất thoát nguồn lực. Việc chuyển giao vốn nhà nước về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) theo Nghị định 151/2013/NĐ-CP là bước đi tất yếu để giải phóng doanh nghiệp khỏi sự can thiệp hành chính trực tiếp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đẩy mạnh tiến trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước tỉnh Hà Tĩnh, hệ thống giải pháp trọng tâm bao gồm 4 nhóm hành động:

Thứ nhất, rà soát phân loại và đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, thoái 100% vốn nhà nước đầu tư ngoài ngành sản xuất kinh doanh chính. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh chỉ đạo các sở, ngành xây dựng danh mục doanh nghiệp không cần giữ cổ phần chi phối, phấn đấu đến năm 2015 hoàn thành cổ phần hóa các đơn vị cấp nước, đăng kiểm và môi trường đô thị, giảm tỷ lệ nắm giữ vốn nhà nước xuống dưới 50% ở các ngành có tính cạnh tranh cao.

Thứ hai, thực hiện chuyển giao toàn bộ quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đã cổ phần hóa về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) theo đúng Nghị định số 151/2013/NĐ-CP. Sở Tài chính chủ trì phối hợp xử lý dứt điểm các vướng mắc về công nợ và quyết toán tài chính, hoàn thành công tác bàn giao 100% hồ sơ doanh nghiệp trước ngày 31 tháng 12 năm 2015.

Thứ ba, tái cơ cấu toàn diện 2 Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp và Dịch vụ theo tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiến hành rà soát, đo đạc và cắm mốc ranh giới đất rừng, bàn giao quỹ đất không sử dụng hiệu quả về cho chính quyền địa phương quản lý, chuyển đổi mô hình sang công ty cổ phần hoặc đơn vị sự nghiệp bảo vệ rừng phòng hộ trong giai đoạn 2014–2016.

Thứ tư, đổi mới mô hình quản trị công ty và nâng cao tính minh bạch tài chính. Thiết lập hệ thống đánh giá hiệu quả theo chỉ số KPI, bắt buộc 100% doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện kiểm toán độc lập hàng năm và công khai báo cáo tài chính định kỳ. Mục tiêu đến năm 2020, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh đạt tối thiểu từ 8% đến 10%/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước như Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về 118 doanh nghiệp để tham mưu ban hành các đề án sắp xếp, thoái vốn và quản lý hơn 2.477 triệu đồng vốn nhà nước sát với thực tế địa phương.

Nhóm thứ hai là Hội đồng thành viên, Ban Tổng giám đốc các doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần có vốn nhà nước. Luận văn cung cấp cẩm nang tái cấu trúc tài chính, xử lý khối nợ thuế trên 2.492 triệu đồng, sắp xếp lao động dôi dư và áp dụng quy chuẩn quản trị công ty hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế.

Nhóm thứ ba là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế và Kinh tế phát triển. Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về mô hình chuyển đổi kinh tế địa phương trong giai đoạn 1998–2015 với phương pháp tiếp cận định lượng kết hợp định tính chặt chẽ.

Nhóm thứ tư là các nhà đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư tài chính quan tâm đến tiến trình cổ phần hóa tại Hà Tĩnh. Nghiên cứu chỉ rõ tiềm năng sinh lời và thực trạng hoạt động của 39 doanh nghiệp sau cổ phần hóa, giúp các nhà đầu tư nắm bắt cơ hội tham gia mua cổ phần và mở rộng chuỗi cung ứng tại Khu kinh tế Vũng Áng.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân nào khiến tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Hà Tĩnh bị chững lại trong giai đoạn 2007–2011? Sự gián đoạn này xuất phát từ những vướng mắc phức tạp trong quy định định giá tài sản vô hình, đất đai và lợi thế địa lý theo cơ chế thị trường. Bên cạnh đó, tâm lý e ngại thay đổi, lo ngại ảnh hưởng đến quyền lợi cá nhân của đội ngũ cán bộ quản lý đã làm chậm tiến độ triển khai tại các đơn vị trong suốt 5 năm.

Cổ phần hóa đã tác động cụ thể như thế nào đến thu nhập của người lao động tại địa phương? Kết quả thống kê tại 39 doanh nghiệp cho thấy mức thu nhập bình quân của người lao động tăng trưởng từ 1,5 đến hơn 3 lần sau cổ phần hóa. Điển hình như tại Công ty Cổ phần Gạch ngói Cầu Họ, thu nhập bình quân tăng từ 0,85 triệu đồng lên 3,4 triệu đồng/tháng, đồng thời chế độ bảo hiểm và môi trường làm việc được cải thiện rõ rệt.

Tỉnh Hà Tĩnh đã giải quyết bài toán xử lý nợ đọng tài chính và lao động dôi dư ra sao? Địa phương đã thực hiện khoanh nợ, cơ cấu lại các khoản nợ thuế hơn 2.492 triệu đồng thông qua phương án tài chính trước cổ phần hóa, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận Quỹ Hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp để chi trả chế độ thỏa đáng cho hàng trăm lao động dôi dư, đồng thời kiên quyết làm thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệp mất vốn như Công ty Cổ phần Xây dựng Thủy lợi II.

Vì sao cần chuyển giao các doanh nghiệp có vốn nhà nước về SCIC quản lý? Việc chuyển giao theo Nghị định số 151/2013/NĐ-CP giúp xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản và sở chủ quản, tách bạch triệt để chức năng quản lý hành chính nhà nước với quyền đại diện chủ sở hữu vốn. Mô hình này thúc đẩy hoạt động kinh doanh vốn chuyên nghiệp, nâng cao tính minh bạch và đẩy nhanh tiến độ thoái vốn đầu tư ngoài ngành.

Các công ty nông lâm nghiệp và thủy nông tại Hà Tĩnh cần tái cơ cấu theo định hướng nào? Đối với 7 công ty thủy nông và 2 công ty lâm nghiệp, định hướng chủ đạo là giữ 100% vốn nhà nước cho nhiệm vụ công ích phòng hộ và điều tiết thủy lợi theo Nghị quyết số 30-NQ/TW. Đồng thời, cần tách bạch hạch toán giữa nhiệm vụ chính trị - công ích và hoạt động dịch vụ thương mại nhằm tăng tính tự chủ tài chính.

Kết luận

  • Quá trình sắp xếp, chuyển đổi 118 doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 1998–2010 đã đặt nền móng quan trọng cho việc tái cấu trúc kinh tế tại tỉnh Hà Tĩnh.
  • Hiệu quả hoạt động và thu nhập của người lao động tại 45 doanh nghiệp cổ phần hóa tăng trưởng mạnh mẽ, trong khi khối 15 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế về quy mô vốn và nợ đọng thuế.
  • Luận văn đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện trên 4 trụ cột: đẩy mạnh cổ phần hóa, chuyển giao vốn về SCIC theo Nghị định số 151/2013/NĐ-CP, tái cơ cấu các công ty lâm nghiệp theo Nghị quyết số 30-NQ/TW và chuẩn hóa năng lực quản trị công ty.
  • Lộ trình thực hiện giai đoạn 2014–2015 và định hướng đến năm 2020 đặt mục tiêu hoàn thành thoái 100% vốn ngoài ngành chính, nâng cao tỷ suất sinh lời ROE đạt trên 8%/năm.
  • Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cần phối hợp hành động quyết liệt, khẩn trương triển khai các khuyến nghị chính sách nhằm xây dựng khu vực doanh nghiệp nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu quả, đóng góp xứng tầm vào sự phát triển bền vững của tỉnh Hà Tĩnh.