Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm sinh lý của chó 1. Thân nhiệt Theo Vũ Như Quán (2011), thân nhiệt của gia súc ổn định, chỉ thay đổi trong phạm vi hẹp tùy thuộc vào tuổi, trạng thái sinh lý, bệnh lý, trạng thái thần kinh, theo mùa. Giống cao sản có thân nhiệt cao hơn giống thấp sản, gia súc non có thân nhiệt cao hơn gia súc trưởng thành vì cường độ trao đổi chất mạnh hơn, sau khi ăn, trong thời gian động dục, khi có thai thì thân nhiệt tăng lên.
Vũ Như Quán (2013) cho biết, thân nhiệt là nhiệt độ cơ thể gia súc được đo qua trực tràng trong lúc con vật yên tĩnh. Theo Trần Cừ và Cù Xuân Dần (1975), khi hai quá trình sinh nhiệt và tỏa nhiệt mất cân bằng con vật có thể rơi vào trạng thái bệnh lý. Hồ Văn Nam (1997) cho biết, trong tình trạng bệnh lý thân nhiệt có sự thay đổi tùy vào tính chất và mức độ của bệnh. Theo Vũ Như Quán (2011), ở trạng thái sinh lý bình thường thân nhiệt của chó là 38 – 39oC.
Ý nghĩa chẩn đoán: Theo Nguyễn Thị Ngân và cs (2016), thông qua việc kiểm tra thân nhiệt của chó ta có thể xác định được con vật có bị sốt hay không. Nếu thân nhiệt tăng 1 - 20C là sốt nhẹ. Nếu thân nhiệt tăng 2 - 30C là hiện tượng sốt cao. Qua đó có thể sơ chẩn được nguyên nhân, tính chất và mức độ tiên lượng, đánh giá được hiệu quả điều trị tốt hay xấu.
Tần số hô hấp (lần/phút) Theo Trần Cừ và Cù Xuân Dần (1975), tần số hô hấp là số lần thở ra, hít vào trong một phút trong lúc con vật yên tĩnh. Tần số hô hấp phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất, giống, tuổi, tầm vóc, thời tiết, trạng thái sinh lý, trạng thái bệnh lý. Ở trạng thái sinh lý bình thường, chó trưởng thành có tần số hô hấp từ 20 – 30 lần/phút, chó con từ 15 – 35 lần/phút. Tần số hô hấp cũng tùy thuộc vào các yếu tố như độ tuổi, giới tính, sự hoạt động (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2007).
Ý nghĩa chẩn đoán : Theo Nguyễn Thị Ngân và cs (2016), ở trạng thái bệnh lý tần số hô hấp thay đổi gọi là hô hấp bệnh lý. Tần số hô hấp tăng trong trong những 5 bệnh làm thu hẹp diện tích hô hấp ở phổi (viêm phổi, lao phổi), làm mất đàn tính ở phổi (phổi khí thũng), những bệnh hạn chế phổi hoạt động (chướng hơi dạ dày, đầy hơi ruột). Những bệnh có sốt cao, bệnh thiếu máu nặng, bệnh ở tim, bệnh thần kinh hay quá đau đớn. Tần số hô hấp giảm trong những bệnh hẹp thanh khí quản (viêm, phù thũng), ức chế thần kinh (viêm não, u não, xuất huyết não, thủy thũng não); do trúng độc, chức năng thận rối loạn, bệnh ở gan nặng, liệt sau khi đẻ hoặc các trường hợp sắp chết.
Tần số tim mạch (nhịp tim) Theo Nguyễn Tài Lương (1982), tần số tim mạch là số lần co bóp của tim trong một phút (lần/phút), khi tim đập thì mỏm tim hoặc thân tim chạm vào thành ngực, vì vậy mà ta có thể dùng tay, áp tai hoặc dùng tai nghe áp vào thành ngực vùng tim để nghe được tiếng tim. Khi tim co bóp sẽ đẩy một lượng máu vào động mạch làm mạch quản mở rộng, thành mạch căng cứng. Sau đó nhờ vào tính đàn hồi, mạch quản tự co bóp lại cho đến thời kỳ co tiếp theo tạo nên hiện tượng động mạch đập. Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016), ở trạng thái sinh lý bình thường: Chó nhỏ 100 - 130 lần/phút, chó lớn 70 - 100 lần/phút.
Ở chó, mèo vị trí tim đập động là khoảng sườn 3 - 4 phía bên trái, tần số tim thể hiện tần số trao đổi chất, trạng thái sinh lý, bệnh lý của tim cũng như của cơ thể. Theo Nguyễn Tài Lương (1982), tần số tim phụ thuộc vào tầm vóc của vật nuôi, độ béo gầy, lứa tuổi, giống loài. Ở trạng thái sinh lý bình thường có hai cơ chế điều hòa tim mạch bằng thần kinh và thể dịch. Ý nghĩa chẩn đoán: Theo Nguyễn Thị Ngân và cs (2016), qua việc bắt mạch có thể khám tim và tình trạng toàn thân của cơ thể.
Tần số mạch tăng do các bệnh truyền nhiễm cấp tính, viêm cấp tính, các trường hợp thiếu máu, hạ huyết áp và các bệnh làm tăng áp lực xoang bụng. Tần số mạch giảm trong trường hợp bệnh làm tăng áp lực sọ não, huyết áp tăng hay do trúng độc hại. Tuổi thành thục sinh dục và chu kỳ lên giống Theo Trần Tiến Dũng và cs (2001), tuổi thành thục về tính còn phụ thuộc vào giống chó. Giống chó nhỏ thường thành thục sớm hơn giống chó to.
Theo Nguyễn Hữu Nam và cs (2016), thời gian thành thục của chó là: 6 Chó đực: 8 - 10 tháng tuổi, những lần phóng tinh đầu tiên của chó đực vào lúc khoảng 8 - 10 tháng. Tuy nhiên, việc thụ tinh của chó đực có hiệu quả bắt đầu từ 10 - 15 tháng. Chó cái: 9 -15 tháng tuổi tùy theo giống và cá thể, có khi lên đến 24 tháng. Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2015), chu kỳ lên giống ở chó cái thường xảy ra mỗi năm 2 lần, trung bình khoảng 6 - 8 tháng.
Thời gian động dục từ 12 - 21 ngày, giai đoạn thích hợp phối giống là từ 9 - 13 ngày sau khi có biểu hiện động dục. Đặc điểm giải phẫu – sinh lý các cơ quan vùng bụng của chó 1. Đặc điểm giải phẫu 1. Xoang bụng và xoang phúc mạc - Xoang bụng là xoang lớn nhất của cơ thể, được giới hạn bởi phía trên là các đốt sống vùng hông.
Phía dưới và hai bên là cơ thành bụng. Phía trước là cửa sau lồng ngực hoặc mặt sau cơ hoành. Phía sau là cửa vào xoang chậu. Chứa phần lớn các cơ quan của hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu, hệ sinh dục.
- Xoang phúc mạc: là xoang nhỏ hơn nằm bên trong của xoang bụng. Xoang phúc mạc tạo bởi 2 lá: Lá thành là lớp màng mỏng lót vào mặt trong thành bụng; lá tạng là phần kéo dài của lá thành vào bên trong bao phủ lên lên mặt các cơ quan nội tạng trong xoang bụng. Giữa 2 lá tạo thành khoảng trống gọi là xoang phúc mạc. Trong xoang chứa dịch phúc mạc có tác dụng làm giảm bớt ma sát khi các cơ quan (như dạ dày, ruột) hoạt động.
Gan Dạ dày Ruột non lách Thận Ruột già Hình 1. Hình ảnh X-quang và hình ảnh miêu tả các cơ quan vùng bụng của chó Nguồn: Nguyễn Bá Tiếp (2010) 7 1.2 Các cơ quan nằm trong xoang bụng của chó Các cơ quan nằm trong xoang bụng chia làm 2 vùng: Vùng nằm trên (nằm ngoài) lá thành xoang phúc mạc, vùng nằm trong lá thành xoang phúc mạc (Nguyễn Bá Tiếp, 2010). - Vùng trên lá thành xoang phúc mạc bao gồm 4 cơ quan: Tuyến tụy, tuyến thượng thận, thận, ống dẫn nước tiểu, bàng quang + Tuyến tụy là đoạn uốn cong của tá tràng thuộc ruột non, được bao quanh bởi lá lách, gan, dạ dày, túi mật và ruột non. Tuyến tụy gồm 2 thùy: Thùy trái men theo đại võng mạc, kéo dài đến bên trái của dạ dày, thùy phải dọc theo tá tràng.
+ Tuyến thượng thận: Là một tuyến đôi có hình bầu dục, nằm ngay phía trên của thận. + Thận là cơ quan sản sinh ra nước tiểu, nằm ở trong xoang bụng nhưng nằm trên lá thành của xoang phúc mạc. Thận phải nằm dưới mỏm ngang đốt sống lưng 13 đến hông 3, thận trái nằm dưới mỏm ngang đốt sống hông 1 - 3. Thận có hình hạt đậu hoặc hình bầu dục, bề mặt nhẵn mịn, có thể di động được nên có thể sờ nắn được dễ dàng.
Gồm: 2 mặt, 2 đầu, 2 cạnh. Trong đó cạnh trong cong lõm, ở giữa có vết lõm sâu gọi là rốn thận là nơi mạch quản, thần kinh đi vào trong thận và nơi đi ra của ống dẫn nước tiểu. Thận trái và thận phải có kích thước và trọng lượng tương đương nhau. Kích thước của 2 quả thận có thể thay đổi, sự thay đổi này không chỉ phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác (Osborne và cs, 1972).
Đối với chó có trọng lượng 12 – 15kg thì chúng có kích thước thận như sau; chiều dài khoảng 5,5 cm, chiều rộng khoảng 3,5 cm và độ dày khoảng 2,5 cm. + Ống dẫn nước tiểu (Niệu quản): Gồm 2 ống làm nhiệm vụ dẫn nước tiểu đi từ thận xuống bàng quang, mỗi ống được chia làm hai phần là phần bụng và phần chậu. Phần bụng bắt đầu từ rốn thận chạy ra phía sau và nằm song song động mạch và tĩnh mạch chủ sau. Hai ống này đi vào xoang chậu và hướng hơi chếch đi xuống dưới để đổ nước tiểu vào cổ bàng quang gọi là phần chậu.
8 + Bàng quang: Bàng quang là một tảng rỗng dưới phúc mạc trong vùng chậu, đây là túi chứa nước tiểu và sau đó qua ống thoát tiểu để thải ra ngoài. Hoạt động nhịp nhàng này là do tác động của thần kinh và hệ thống cấu tạo đặc biệt của cơ bàng quang, tạo nên sự thay đổi áp lực của bàng quang và ống thoát tiểu với hai tính chất đặc biệt là tính đàn hồi sinh học và tính co bóp của lớp cơ (Nguyễn Kỳ, 2003). Khi bàng quang đầy nước tiểu, niêm mạc căng ra. Ngược lại khi ít nước tiểu bàng quang thu nhỏ, niêm mạc chun lại.
Khi cơ bàng quang co để tống nước tiểu ra niệu đạo, các cơ của thành bàng quang ép chặt lỗ niệu quản. Chính nhờ điều này mà nước tiểu không trào lên bể thận (Nguyễn Đình Giậu, 2000). + Ống thoát tiểu (niệu đạo): Ống thoát tiểu có cấu trúc giống như cấu trúc bàng quang nhưng chức năng hoàn toàn khác. Ống thoát tiểu không chứa nước tiểu mà cũng không thể giãn như bàng quang, chỉ giúp đưa nước tiểu thoát ra ngoài (Nguyễn Kỳ, 2003).
Ở thú đực, ống thoát tiểu được phân ra nhiều đoạn, đoạn gần bàng quang gọi là niệu tiền liệt, đoạn giữa gọi là niệu đạo màng (cả hai đoạn này nằm trong xoang chậu), đoạn cuối là niệu đạo dương vật, đoạn này nằm ngoài xoang chậu. Niệu đạo gia súc cái tương đương đoạn niệu đạo nằm ngoài xoang chậu của gia súc đực, chỉ khác là không có chứa tuyến (Osborne, 1972). - Vùng dưới lá thành xoang phúc mạc bao gồm các cơ quan sau: + Thực quản đoạn bụng: Là đoạn ngắn đi từ mặt sau cơ hoành, qua cạnh trên của gan đến lỗ thượng vị của dạ dày. + Gan: Là tuyến tiêu hóa lớn nhất của cơ thể, nằm trong xoang bụng, nằm chéo từ trên xuống dưới, từ sau ra trước, từ phải sang trái.