Đặt vấn đề Chăn nuôi vẫn luôn là ngành kinh tế chủ lực và truyền thống của Việt Nam hiện nay, nhất là ngành chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân. Hiện nay, ở Việt Nam thịt lợn luôn chiếm thị phần hàng đầu trong tổng số khối lượng thịt bán trên thị trường. Vì vậy, chăn nuôi lợn ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm, ưu tiên phát triển để theo kịp với nhịp độ chung của đất nước. Chăn nuôi lợn không chỉ đáp ứng yêu cầu cung cấp thịt trong nước mà còn tham gia xuất khẩu (Nguyễn Văn Tốn, 2020 30).
Cùng với xu hướng phát triển của xã hội thì chăn nuôi lợn đang chuyển dần từ loại hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung trang trại, từ đó góp phần cho ngành chăn nuôi lợn đạt được bước phát triển không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Chăn nuôi lợn nái sinh sản đang dần trở thành một trong những khâu quan trọng trong chăn nuôi lợn hiện đại nhằm cung cấp con giống cho giai đoạn chăn nuôi lợn thịt thương phẩm sau này. Nhưng một quy luật tất yếu trong quá trình phát triển chăn nuôi là mật độ nuôi càng cao thì dễ nảy sinh vấn đề dịch bệnh. Nguyên nhân gây bệnh là do khả năng thích nghi của lợn nái với khí hậu, điều kiện vệ sinh chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh.
đã gây ra một số bệnh làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và chất lượng con giống cũng như toàn đàn lợn. Tuy nhiên, để có được sản phẩm chất lượng, an toàn việc áp dụng quá trình chọn giống, nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn là hết sức cần thiết. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn và cơ sở thực tập, em thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bênh, trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Công ty TNHH MNS Farm Nghệ An”. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1.
Mục tiêu - Theo dõi tình hình chăn nuôi của trang trại. - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ - Xác định tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại. Yêu cầu của chuyên đề - Theo dõi tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại. - Thành thạo quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại.
- Thực hiện được quy trình vệ sinh, phòng và trị một số bệnh thường gặp ở đàn lợn nái và lợn con theo mẹ tại trại - Chăm chỉ, chịu khó học hỏi để nâng cao kiến thức tay nghề của bản thân. Luan van 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Quá trình thành lập và cơ cấu tổ chức của trang trại 2.
Quá trình thành lập Trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học công ty TNHH MNS Farm Nghệ An nằm trên địa bàn xóm Côn Sơn - Hạ Sơn - Quỳ Hợp - Nghệ An. Trang trại cách xa các khu dân cư, nên công tác phòng dịch bệnh rất tốt vì địa hình rừng núi “nội bất xuất ngoại bất nhập”. Khu này chỉ có một đường vào, hệ thống chuồng trại với quy mô đạt tiêu chuẩn GlobalGap, hoạt động theo phương thức công nghiệp, mô hình hiện đại, hiện là trại chăn nuôi với quy mô lớn nhất miền Trung. Trại nuôi và phát triển con giống thuộc dòng cụ kỵ (GGP) và dòng ông bà (GP) thuộc các giống Yorkshire, Landrace và Duroc.
Hiện nay trại thuê công nhân, công ty đầu tư thức ăn, thuốc thú y và cán bộ kỹ thuật, trang trại do ông Kanisorn Suttikao làm giám đốc trại, ông Nguyễn Văn Trung làm trưởng trại, cán bộ kỹ thuật của trại gồm 4 quản lý, nhiều kỹ sư có trình độ cao và công nhân. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức gồm 3 nhóm: + Nhóm quản lý bao gồm anh Nguyễn Văn Trung, trưởng trại phụ trách chung và chị Nguyễn Thị Quy giám sát trại, 1 hành chính nhân sự, 6 tổ trưởng gồm, choai thịt, nái đẻ, sau cai sữa, mang thai, lái xe, biogas, bảo trì, 10 tổ phó của các tổ. + Nhóm kỹ thuật bao gồm: 25 kỹ thuật sản xuất, 6 kỹ thuật biogas, an toàn vệ sinh môi trường 4, 3 kế toán, 2 quản lý kho, 2 sale (bán hàng), 1 nhân viên y tế. + Nhóm công nhân bao gồm: 116 công nhân, 19 bảo vệ, 2 tạp vụ, 11 người nấu ăn.
Cùng 4 sinh viên thực tập thực hiện công việc chuyên môn. Luan van 4 Với đội ngũ nhân công trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng mang thai, tổ cai sữa, tổ chuồng thịt, tổ chuồng nọc và phòng pha chế tinh. Điều kiện tự nhiên của nơi thực tập - Trại chăn nuôi S2 Công ty TNHH MNS Farm Nghệ An nằm trên địa bàn xóm Côn Sơn, xã Hạ Sơn, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An. Xã Hạ Sơn được chia thành 9 xóm.
Hạ Sơn được nối với quốc lộ 48 đoạn qua xã Minh Hợp bằng con đường độc đạo dài gần 18km hay còn gọi là đường nguyên liệu. Diện tích tự nhiên xã có 43,15 km², dân số năm 1999 là 3.106 người, mật độ dân số đạt 72 người/km². Theo thống kê năm 2015, xã có dân số là 4.100 người, mật độ dân số đạt 95 người/km². Phía Bắc giáp huyện Quỳ Châu Phía Nam giáp các huyện Tân Kỳ và Anh Sơn Phía Đông giáp huyện Nghĩa Đàn Phía Tây giáp các huyện Con Cuông và Quỳ Châu.
- Hạ Sơn có khí hậu mang tính chất chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam – khí hậu nhiệt đới gió mùa: + Lượng mưa hằng năm cao nhất đạt 2. Thấp nhất đạt 1. Trung bình đạt 1. + Độ ẩm trung bình hằng năm đạt 82%, cao nhất 88% và thấp nhất là 67%, nhiệt độ trung bình trong năm là 210C - Do đặc điểm thổ nhưỡng, Hạ Sơn có điều kiện phát triển lâm nghiệp và trồng các loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày như: chè, cao su, cà phê, mía,.
cây ăn quả như: cam, vải, nhãn,. Đồng thời, xã cũng có tiềm năng để phát triển nông nghiệp với các loại cây như ngô, khoai, sắn. Hạ Sơn có diện tích rừng lớn, chiếm 40% diện tích tự nhiên của huyện, trữ lượng gỗ cao, bình quân 150m3/ha, với nhiều loại gỗ quý như: lim, gụ, sến, lát hoa,. và nhiều loại cây đặc sản, dược liệu như quế, sa nhân, cánh kiến, nấm Luan van 5 hương,.
Bên cạnh đó, Hạ Sơn còn có nhiều đồi núi với hệ thực - động vật phong phú, đa dạng. Hạ Sơn có nhiều khoáng sản quý như: vàng, đá quý, thiếc, ăng ti moan,. Riêng quặng thiếc có hàm lượng cao. Cơ sở vật chất của nơi thực tập - Trại chăn nuôi Farm S2 nằm ở khu vực cánh đồng rộng lớn thuộc xã Hạ Sơn, có địa hình tương đối bằng phẳng với diện tích 110,8ha.
- Trang trại dành khoảng 2,5 ha để xây dựng nhà điều hành, nhà ăn cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và hoạt động của trại. - Khu chăn nuôi được xây dựng, quy hoạch bố trí hệ thống chuồng trại cho 2 phân khu là khu nuôi lợn nái (với quy mô 5000 con) và khu nuôi lợn thịt (quy mô 40000 con) như sau: + Khu lợn nái đẻ: gồm 2 khu nái đẻ là khu A và khu B. Mỗi khu có 2 dãy nhà, mỗi dãy có 5 phòng, mỗi phòng có 84 ô chứa nái. + Khu lợn mang thai: gồm 2 khu A và B.
Mỗi khu có 1 chuồng phối, 4 chuồng an thai và 1 chuồng lợn đực giống để khai thác và cung cấp tinh cho cả 2 khu. Ngoài ra còn có 3 chuồng cách ly lợn nái hậu bị. Cùng một số công trình phụ như: phòng pha tinh, kho thức ăn, kho thuốc, bể nước, nhà vệ sinh. + Khu nuôi lợn thịt: 2 dãy chuồng (mỗi dãy có 20 chuồng , mỗi chuồng nuôi được 1000 lợn thịt) và 4 nhà lợn con cai sữa (mỗi nhà có 6 phòng, mỗi phòng nuôi được 1000 con).
Và một số công trình phụ như bể nước, kho thức ăn, kho thuốc. Hệ thống chuồng trại của 2 phân khu là hoàn toàn khép kín, hiện đại, đạt tiêu chuẩn chăn nuôi GlobalGAP. Mỗi chuồng đều có hệ thống giàn mát phía đầu chuồng, cuối chuồng có 5 quạt thông gió đối với 1 phòng nuôi lợn con cai sữa, 12 quạt thông gió đối với 1 chuồng mang thai, 7 quạt thông gió đối với 1 chuồng nuôi lợn thịt. Hai bên tường đều có cửa sổ lắp kính.
Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh, cửa gió trời. Luan van 6 Phòng tinh của trại được trang bị các dụng cụ như: kính hiển vi, nồi hấp, dụng cụ đóng liều tinh, máy đo nhiệt, tủ bảo quản tinh và một số dụng cụ khác. Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước uống, nước xả gầm, nước vệ sinh của 2 khu lợn nái và lợn thịt được cung cấp từ 2 bể chứa riêng biệt.
Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 2. Sự thành thục về tính và thể vóc * Sự thành thục về tính: Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản. Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục.
Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối. Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại. - Giống: Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau: những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn. Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỉ 2003 [3], tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg.