Chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo chế độ bảo hiểm điều dưỡng ở Nhật Bản

Luận văn thạc sĩ ussh khám phá chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn Nhật Bản theo chế độ bảo hiểm điều dưỡng, mang lại giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Châu Á học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

128
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU

0.1. Lý do lựa chọn đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Lịch sử nghiên cứu

0.6. Thống kê, nghiên cứu về xã hội già hóa và phúc lợi xã hội của Nhật Bản

0.7. Nghiên cứu về Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng

1. CHƯƠNG 1: GIÀ HÓA DÂN SỐ VÀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM ĐIỀU DƯỠNG Ở NHẬT BẢN

1.1. Dân số và già hoá dân số

1.2. Già hoá dân số ở khu vực nông thôn

1.2.1. Tình trạng già hoá ở nông thôn

1.2.2. Cuộc sống của người cao tuổi và nhu cầu điều dưỡng ở nông thôn

1.3. Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản

1.3.1. Chính sách phúc lợi dành cho người cao tuổi ở Nhật Bản trước năm 2000

1.3.2. Quá trình ban hành Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng năm 2000

1.3.3. Nội dung của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng

2. CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VỀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI VÙNG NÔNG THÔN THEO CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM ĐIỀU DƯỠNG Ở NHẬT BẢN

2.1. Trường hợp làng Tozawa, huyện Mogami, tỉnh Yamagata

2.1.1. Khái quát về làng Tozawa

2.1.2. Quá trình triển khai Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng

2.1.3. Điều tra phỏng vấn về thực tế áp dụng Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở làng Tozawa

2.2. Trường hợp thị trấn Sanada, thành phố Ueda, tỉnh Nagano

2.2.1. Khái quát về thị trấn Sanada

2.2.2. Quá trình triển khai Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng

2.2.3. Điều tra phỏng vấn về thực tế áp dụng Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở thị trấn Sanada

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI VÙNG NÔNG THÔN THEO CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM ĐIỀU DƯỠNG Ở NHẬT BẢN

3.1. Đặc điểm của dịch vụ chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng

3.1.1. Chăm sóc người cao tuổi và thiên vị giới tính trong gia đình

3.1.2. Tính theo mùa và tính khu vực trong sử dụng dịch vụ điều dưỡng

3.1.3. Chăm sóc người già và ảnh hưởng đến nông nghiệp

3.1.4. Nhu cầu sử dụng dịch vụ nhân viên chăm sóc tại nhà và dịch vụ chăm sóc thay thế

3.1.5. Những thay đổi trong cuộc sống của người cao tuổi và người chăm sóc trong và sau khi sử dụng dịch vụ điều dưỡng

3.2. Vấn đề tồn tại

3.2.1. Nhân lực trong ngành điều dưỡng

3.2.2. Chi phí sử dụng dịch vụ

3.2.3. Ngân sách chi trả xã hội

3.3. Một vài gợi ý chính sách

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chăm Sóc Người Cao Tuổi Nông Thôn Theo Bảo Hiểm Điều Dưỡng Nhật Bản

Chăm sóc người cao tuổi nông thôn theo chế độ bảo hiểm điều dưỡng Nhật Bản là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh già hóa dân số. Nhật Bản là quốc gia tiên phong trong việc áp dụng các chính sách chăm sóc người cao tuổi, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Chế độ bảo hiểm điều dưỡng không chỉ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mà còn tạo ra một mô hình có thể tham khảo cho các quốc gia khác, bao gồm Việt Nam.

1.1. Giới Thiệu Về Chế Độ Bảo Hiểm Điều Dưỡng Nhật Bản

Chế độ bảo hiểm điều dưỡng Nhật Bản được thành lập vào năm 2000 nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc người cao tuổi. Chế độ này cho phép người cao tuổi lựa chọn dịch vụ chăm sóc phù hợp với nhu cầu của họ, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống.

1.2. Tình Hình Già Hóa Dân Số Tại Nhật Bản

Nhật Bản đang đối mặt với tình trạng già hóa dân số nghiêm trọng. Theo thống kê, tỷ lệ người cao tuổi chiếm khoảng 27,3% dân số, điều này đặt ra nhiều thách thức cho hệ thống chăm sóc sức khỏe và phúc lợi xã hội.

II. Vấn Đề Chăm Sóc Người Cao Tuổi Nông Thôn Tại Nhật Bản

Chăm sóc người cao tuổi ở nông thôn Nhật Bản gặp nhiều thách thức do sự thiếu hụt nhân lực và cơ sở vật chất. Nhiều người cao tuổi sống một mình, dẫn đến việc thiếu sự hỗ trợ cần thiết. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn tác động đến sức khỏe tâm lý của họ.

2.1. Thách Thức Trong Việc Cung Cấp Dịch Vụ Chăm Sóc

Nhu cầu chăm sóc ngày càng tăng trong khi nguồn nhân lực điều dưỡng lại hạn chế. Điều này dẫn đến tình trạng quá tải trong các cơ sở chăm sóc và ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ.

2.2. Tình Trạng Sức Khỏe Của Người Cao Tuổi

Nhiều người cao tuổi mắc các bệnh mãn tính và cần sự chăm sóc đặc biệt. Việc thiếu sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng khiến họ gặp khó khăn trong việc duy trì sức khỏe.

III. Phương Pháp Chăm Sóc Người Cao Tuổi Theo Bảo Hiểm Điều Dưỡng

Chế độ bảo hiểm điều dưỡng Nhật Bản áp dụng nhiều phương pháp chăm sóc linh hoạt, từ chăm sóc tại nhà đến các dịch vụ điều dưỡng chuyên nghiệp. Điều này giúp người cao tuổi có thể sống độc lập hơn trong cộng đồng.

3.1. Chăm Sóc Tại Nhà Cho Người Cao Tuổi

Chăm sóc tại nhà là một phần quan trọng trong chế độ bảo hiểm điều dưỡng. Người cao tuổi có thể nhận được sự hỗ trợ từ nhân viên điều dưỡng tại nhà, giúp họ duy trì cuộc sống hàng ngày.

3.2. Dịch Vụ Chăm Sóc Tại Cộng Đồng

Các dịch vụ chăm sóc tại cộng đồng được thiết kế để hỗ trợ người cao tuổi trong việc tham gia vào các hoạt động xã hội. Điều này không chỉ giúp họ cảm thấy gắn kết mà còn cải thiện sức khỏe tâm lý.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Chế Độ Bảo Hiểm Điều Dưỡng

Chế độ bảo hiểm điều dưỡng đã được áp dụng thành công tại nhiều khu vực nông thôn Nhật Bản. Các nghiên cứu cho thấy rằng người cao tuổi nhận được sự chăm sóc tốt hơn và có chất lượng cuộc sống cao hơn.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Tại Làng Tozawa

Nghiên cứu tại làng Tozawa cho thấy rằng chế độ bảo hiểm điều dưỡng đã giúp cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của người cao tuổi. Họ có thể tiếp cận dịch vụ chăm sóc dễ dàng hơn.

4.2. Mô Hình Chăm Sóc Thành Công Tại Thị Trấn Sanada

Thị trấn Sanada đã áp dụng mô hình chăm sóc tích cực, kết hợp giữa gia đình và cộng đồng, giúp người cao tuổi duy trì sức khỏe và sự độc lập.

V. Kết Luận Về Chăm Sóc Người Cao Tuổi Nông Thôn

Chăm sóc người cao tuổi nông thôn theo chế độ bảo hiểm điều dưỡng Nhật Bản là một mô hình đáng tham khảo. Các chính sách và phương pháp chăm sóc cần được cải thiện và áp dụng rộng rãi hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người cao tuổi.

5.1. Tương Lai Của Chế Độ Bảo Hiểm Điều Dưỡng

Chế độ bảo hiểm điều dưỡng cần tiếp tục được cải tiến để đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số. Các chính sách mới cần được xây dựng dựa trên kinh nghiệm thực tiễn.

5.2. Gợi Ý Chính Sách Cho Việt Nam

Việt Nam có thể học hỏi từ mô hình chăm sóc người cao tuổi của Nhật Bản để phát triển các chính sách phù hợp với bối cảnh địa phương, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo chế độ bảo hiểm điều dưỡng ở nhật bản

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Già hoá dân số và Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu tổng quát về dân số, tình hình già hoá dân số ở Nhật Bản nói chung và khu vực nông thôn nói riêng; khái niệm, cơ chế vận hành và nội dung của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Nghiên cứu trường hợp về chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản Chương hai là một trong hai chương chính của luận văn. Trong chương này, tác giả tập trung phân tích quá trình ban hành và triển khai Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng tại hai địa phương là làng Tozawa, tỉnh Yamagata và thị trấn Sanada, tỉnh Nagano. Tiếp đó, tác giả luận văn phân tích kết quả điều tra phỏng vấn để làm rõ tình hình cụ thể của việc chăm sóc người cao tuổi tại đây.

Chương 3: Đánh giá thực trạng chăm sóc người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ở Nhật Bản Trong chương ba, tác giả sẽ phân tích những đặc điểm sử dụng dịch vụ điều dưỡng của người cao tuổi vùng nông thôn theo Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng. Từ đó tác giả chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại và đưa ra một vài gợi ý về chính sách cho Việt Nam. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 GIÀ HÓA DÂN SỐ VÀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM ĐIỀU DƢỠNG Ở NHẬT BẢN Già hoá dân số là một trong những xu hướng phổ biến của thế kỷ XXI và có tác động đến toàn bộ các khía cạnh của đời sống kinh tế xã hội của từng quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới. Dân số già có nghĩa là tuổi thọ dân cư tăng lên và là hệ quả tích cực của các chính sách phát triển kinh tế, chăm sóc y tế, phúc lợi xã hội.

Hiện nay trên thế giới có gần 7 tỷ người và 1/9 trong số này là người từ 60 tuổi trở lên. Theo dự báo, đến năm 2050, dân số thế giới đạt 9,2 tỷ người và tỉ lệ người trên 60 tuổi sẽ là 1/5, nghĩa là cứ có 5 người thì có 1 người cao tuổi4. Tuy nhiên, tốc độ già hoá lại diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia và khu vực. Tại Bắc Âu và Bắc Mỹ là hai khu vực sớm trải qua gia đoạn dân số già, các chính phủ đã sớm đưa ra những chính sách y tế phúc lợi dành cho người cao tuổi, đồng thời tìm kiếm giải pháp hạn chế ảnh hưởng xấu của tình trạng này.

Tại Châu Á, Nhật Bản là nước đầu tiên bước vào thời kỳ già hoá. Hiện nay, một số nước phát triển trong châu lục như Trung Quốc, Hàn Quốc và ngay cả những nước đang phát triển như Thái Lan hay Việt Nam cũng bắt đầu phải đối mặt với vấn đề này. Cùng với sự phát triển thần kỳ về kinh tế, điều kiện sống cũng như y tế phúc lợi Nhật Bản được cải thiện rõ rệt trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ XX đã góp phần tăng tuổi thọ trung bình của người Nhật, nhưng bên cạnh đó làm phát sinh một số vấn đề xã hội nan giải, như quan niệm không lấy chồng sinh con dẫn đến tỉ lệ sinh giảm… khiến dân số Nhật Bản ―già đi‖ nhanh chóng. Nếu thời gian cần thiết để phần người già trong tổng số dân tăng gấp đôi từ 7 lên 14% ở Pháp là 130 năm, ở Thuỵ Điển là 85 năm thì ở Nhật Bản chỉ mất có 25 năm [12, tr.

Tốc độ già hoá diễn ra không đồng đều giữa các tỉnh thành và đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn. Theo tính toán, khu vực nông thôn Nhật Bản bước vào thời kỳ siêu già của dân số nhanh hơn 20 năm so với khu vực thành thị [35, tr. Đó là bởi xu hướng thời đại khi thế hệ trẻ rời bỏ quê hương ra thành phố lập nghiệp và để lại người cao 4 PGS. Mạc Văn Tiến, Xu hướng già hoá dân số và an sinh xã hội trong thế kỷ 21, đăng trên trang web Bảo hiểm xã hội Bộ quốc phòng, truy cập ngày 10/12/2017 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuổi sống độc thân hoặc vợ chồng người cao tuổi sống cùng nhau.

Chăm sóc người cao tuổi tại nhà đứng trước thách thức lớn, đặt ra yêu cầu về ―xã hội hoá chăm sóc‖, tức là nâng cao vai trò của cộng đồng trong công tác chăm sóc người cao tuổi. Đồng thời, những khó khăn trên cũng đặt ra yêu cầu về một chế độ hỗ trợ toàn diện về phúc lợi, y tế và cuộc sống sinh hoạt để người cao tuổi có một cuộc sống ổn định và khoẻ mạnh chính tại nơi mà họ đang sống. Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng ra đời năm 2000 đã kịp thời đáp ứng những nhu cầu đó. Chương 1 tập trung trình bày về bối cảnh ban hành chế độ này, tiền đề của các chế độ bảo hiểm trước đó và nội dung của Chế độ Bảo hiểm Điều dưỡng năm 2000.1 Dân số và già hoá dân số Theo kết quả thống kê của Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản, tính đến ngày 1 tháng 10 năm 2016, dân số nước này đạt 126,93 triệu người (nam giới là 61,77 triệu người, nữ giới là 65,17 triệu người), giảm 0,11% so với cùng kỳ năm trước và đánh dấu năm giảm dân số thứ 6 liên tiếp kể từ năm 2010.

Cũng trong thống kê này, số người từ 65 tuổi trở lên ở Nhật Bản là 34,59 triệu người, chiếm 27,3% trong tổng dân số. Nam giới từ 65 tuổi trở lên chiếm 24.3% trong tổng dân số người cao tuổi, với 15 triệu người; trong khi đó số liệu này ở nữ giới là 19,59 triệu người, chiếm 30,1% [34, tr. Theo nghiên cứu được Liên hiệp quốc và nhiều tổ chức quốc tế công nhận do các tác giả Cowgill và Holmes thực hiện năm 1970, khi tỉ lệ người già trên 65 tuổi vượt trên 7% dân số thì xã hội đó bước vào giai đoạn già hoá dân số5. Nếu áp dụng quan điểm này thì Nhật Bản đã bước vào thời kỳ già hóa dân số từ những năm 70 của thế kỷ XX.

5 Theo phân loại của Cowgill và Holmes (1970), khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến 9,9% tổng dân số thì dân số được coi là ―già hoá‖. Tương tự, 10%-19,9% gọi là dân số ―già‖; 20%-29,9% gọi là dân số ―rất già‖ và từ 30% trở lên gọi là dân số ―siêu già‖. Nhiều báo cáo của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế sử dụng cách phân loại này. Nguồn: Quỹ dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, Già hoá dân số và người cao tuổi ở Việt Nam – Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách, 7/2011, trang 2 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Nhật Bản hiện nay, thế hệ dankai (団塊の世代, tức thế hệ sinh ra trong cuộc bùng nổ dân số lần thứ nhất sau Chiến tranh Thế giới thứ hai diễn ra trong các năm 1947~1949) đang bước vào giai đoạn già hoá.

Cụ thể là theo thống kê của Văn phòng Nội các Nhật Bản, đến năm 2015, số người thuộc thế hệ này trên 65 tuổi là 33,87 triệu người, và đến năm 2025 khi thế hệ này 75 tuổi, ước tính con số đạt mức 36,77 triệu người. Theo dự báo, tỉ lệ già hoá dân số Nhật Bản tiếp tục tăng lên trong những năm tới và đến năm 2036, tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên sẽ chiếm 33,3%, tức là cứ 3 người thì có 1 người trên 65 tuổi. Từ sau năm 2042, việc tổng dân số giảm sẽ tiếp tục kéo theo sự tăng của tỉ lệ già hoá, đến năm 2065, tỉ lệ này đạt 38,4%, đồng nghĩa với việc cứ 2,6 người thì có 1 người trên 65 tuổi. Cùng với đó, tỉ lệ người trên 75 tuổi cũng tăng dần qua các năm và đến năm 2065, tỉ lệ này sẽ đạt 25,5% khiến cho lần đầu tiên ở Nhật Bản, cứ 4 người thì có 1 người ở độ tuổi 75 [34, tr.

Theo thống kê của Văn phòng Nội các Nhật Bản, năm 2015 số hộ gia đình có người già trên 65 tuổi là 23,72 triệu hộ, tăng 23,1% so với năm 1980 và chiếm 47,1% trong tổng số hộ gia đình cả nước. Trong khi số hộ gia đình ba thế hệ sống cùng nhau có xu hướng giảm thì số hộ chỉ có người già sống cùng con cái chưa kết hôn, hộ chỉ có hai vợ chồng người già và hộ người già sống độc thân lại có xu hướng tăng lên. Nếu năm 1980, tỉ lệ gia đình ba thế hệ cao nhất và chiếm hơn một nửa thì đến năm 2015, số hộ chỉ hai vợ chồng chiếm tỉ lệ cao nhất khoảng 30%. Như vậy có thể thấy rõ một thực tế là số người già trên 65 tuổi ở Nhật Bản sống cùng con cái đang ngày càng giảm, từ 69,0% năm 1980 xuống còn 39% năm 2015 và người già sống độc thân đang ngày càng tăng lên [34, tr.

―Xã hội già hoá và tỉ lệ sinh thấp‖ (尐子高齢化) đang là cụm từ được dùng rộng rãi để nói về vấn đề mất cân bằng dân số ở Nhật Bản. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng già hoá dân số, trong đó tình trạng phụ nữ kết hôn muộn, không muốn có con là những nguyên nhân hàng đầu của vấn đề tỉ lệ sinh giảm, một trong những yếu tố góp phần làm già hoá dân số. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xét về tỉ lệ sinh đẻ, vào những năm 1970, trung bình một phụ nữ Nhật Bản đẻ dưới 2,08 người con trong vòng đời. Nhiều ý kiến cho rằng, nếu tỉ lệ sinh cứ tiếp tục duy trì ở tình trạng thấp như vậy thì sẽ dẫn đến giảm dân số, nhưng trên thực tế, do tuổi thọ trung bình của người Nhật vẫn tiếp tục tăng lên nên dân số vẫn tăng.

Tuy nhiên từ sau năm 1975 đã giảm xuống là 2,0 người con/phụ nữ, và cho đến năm 2015 thì tỉ lệ này là 1,45 người con/phụ nữ6. Nhiều biện pháp khắc phục đã được đề ra như tăng cường hệ thống phúc lợi dành cho người có con nhỏ với nhiều ưu tiên, thực hiện các chính sách khuyến khích sinh đẻ, hoàn thiện hơn nữa môi trường giáo dục nhà trẻ, mẫu giáo để các bà mẹ có thể yên tâm gửi con đi làm, giảm bớt gánh nặng việc nhà và chăm sóc con nhỏ cho phụ nữ. Tuy nhiên, việc giảm mạnh tỉ lệ sinh vốn bắt nguồn từ sự thay đổi trong ý thức, quan niệm của người Nhật về vấn đề hôn nhân, gia đình và việc sinh con, dẫn tới lối sống độc thân, sự thu hẹp quy mô gia đình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ