Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình mang thai và chuyển dạ sinh nở là một tiến trình sinh lý tự nhiên nhưng luôn tiềm ẩn những nguy cơ biến chứng khó lường đe dọa trực tiếp tới tính mạng của cả sản phụ và thai nhi. Theo các báo cáo dịch tễ học toàn cầu, mỗi năm có khoảng 640 triệu phụ nữ gặp các bệnh lý liên quan đến thai nghén, 64 triệu trường hợp xuất hiện biến chứng khi sinh và khoảng 530.000 sản phụ tử vong trong quá trình sinh đẻ. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) ghi nhận nguy cơ tử vong do biến chứng thai sản tại các quốc gia đang phát triển lên tới 1/76, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ 1/8.000 tại các nước công nghiệp phát triển. Hằng năm cũng có khoảng 4,3 triệu trẻ sơ sinh tử vong trong 28 ngày đầu đời do các vấn đề như ngạt sau sinh, hạ thân nhiệt, nhiễm khuẩn hô hấp hoặc nhiễm trùng rốn.
Tại Việt Nam, số liệu thống kê của Bộ Y tế ghi nhận tỷ số tử vong mẹ (MMR) năm 2011 là 69/100.000 trẻ đẻ sống và tỷ suất tử vong sơ sinh (IMR) là 16/1.000 trẻ đẻ sống; có từ 10% đến 20% bà mẹ gặp các vấn đề sức khỏe sau sinh. Trong năm 2012, cả nước ghi nhận 289 ca tử vong mẹ, trong đó 45% trường hợp xảy ra trong quá trình chuyển dạ và 24 giờ đầu sau đẻ, với 47% nguyên nhân trực tiếp bắt nguồn từ tai biến chảy máu sau đẻ (băng huyết sau sinh). Nhằm giảm thiểu các rủi ro này và thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, ngày 10/11/2014, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 4673/QĐ-BYT phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn "Chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ" (Early Essential Newborn and Maternal Care - EENC).
Khoa Sản điều trị theo yêu cầu thuộc Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí giữ vai trò quan trọng trong công tác tiếp nhận, đỡ đẻ và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nhân dân tỉnh Quảng Ninh cùng các khu vực lân cận. Tuy nhiên, tại thời điểm năm 2022, bệnh viện chưa có công trình khảo sát chuyên sâu nào đánh giá cụ thể mức độ tuân thủ quy trình chăm sóc thiết yếu sau đẻ thường. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn lâm sàng, tác giả Nguyễn Thị Nga đã thực hiện báo cáo chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa I ngành Sản Phụ khoa tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định dưới sự hướng dẫn của ThS. Đào Thị Hồng Nhung, với đề tài: "Thực trạng công tác chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ thường tại Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí năm 2022".
Đề tài xác định 02 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả công tác chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ thường tại Khoa Sản điều trị theo yêu cầu – Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí năm 2022.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ thường tại Khoa Sản điều trị theo yêu cầu – Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quy trình thực hành kỹ thuật chăm sóc thiết yếu của các nữ hộ sinh trên các cặp sản phụ và trẻ sơ sinh sau đẻ thường.
- Phạm vi không gian: Khoa Sản điều trị theo yêu cầu – Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí (Quảng Ninh).
- Phạm vi thời gian: Năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và hướng dẫn chuyên môn áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở chuẩn hóa các hướng dẫn y khoa quốc tế và trong nước về xử trí chuyển dạ và chăm sóc sơ sinh:
- Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (Bộ Y tế).
- Quyết định số 4673/QĐ-BYT ngày 10/11/2014 của Bộ Y tế về "Phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ".
- Khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Liên đoàn Sản Phụ khoa Quốc tế (FIGO) và Liên đoàn Hộ sinh Quốc tế (ICM) về Xử trí tích cực giai đoạn 3 của cuộc chuyển dạ (Active Management of the Third Stage of Labor - AMTSL).
Quy trình chuẩn EENC trong đẻ thường bao gồm 6 can thiệp cốt lõi được thực hiện tuần tự:
- Lau khô và ủ ấm; cho trẻ tiếp xúc trực tiếp da kề da liên tục ít nhất 90 phút.
- Tiêm bắp 10 đơn vị (UI) Oxytocin vào mặt trước đùi sản phụ sau khi đã loại trừ còn thai trong tử cung.
- Kẹp dây rốn muộn (khi dây rốn ngừng đập hoặc từ 1 đến 3 phút sau sổ thai) và cắt dây rốn một thì bằng dụng cụ vô khuẩn.
- Kéo dây rốn có kiểm soát kết hợp động tác đẩy đáy tử cung ngược lên phía xương ức khi xuất hiện cơn co.
- Xoa đáy tử cung qua thành bụng với tần suất 15 phút/lần liên tục trong 2 giờ đầu sau đẻ.
- Hỗ trợ sản phụ cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn ngay trong giờ đầu sau sinh khi xuất hiện các dấu hiệu đòi bú.
QUY TRÌNH CHĂM SÓC THIẾT YẾU (EENC - QĐ 4673/QĐ-BYT)
CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH CHĂM SÓC BÀ MẸ (AMTSL)
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp quan sát có tham dự (participant observation).
- Quy trình thu thập dữ liệu: Người nghiên cứu trực tiếp theo dõi, giám sát quá trình hộ sinh thực hiện quy trình kỹ thuật đỡ đẻ và chăm sóc ngay sau đẻ trên từng ca sinh thường.
- Công cụ nghiên cứu: Bảng kiểm chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ thường ban hành kèm theo Quyết định số 4673/QĐ-BYT của Bộ Y tế.
- Cỡ mẫu: Quan sát trực tiếp 50 ca thực hành chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh đẻ thường tại Khoa Sản điều trị theo yêu cầu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 1 hệ thống hóa các kiến thức nền tảng về cơ chế sinh lý học chuyển dạ, các nguy cơ bệnh học sản khoa, đặc điểm sinh học của trẻ sơ sinh đủ tháng và tổng quan y văn trong nước lẫn quốc tế.
Về cơ chế chuyển dạ đẻ thường ngôi chỏm, tiến trình được phân chia làm 3 giai đoạn rõ rệt:
- Giai đoạn 1 (Xóa mở cổ tử cung): Thời gian trung bình kéo dài 15 giờ, gồm pha tiềm tàng (cổ tử cung mở từ 0 đến 3 cm, tối đa 8 giờ) và pha tích cực (mở từ 3 cm đến 10 cm, tối đa 7 giờ).
- Giai đoạn 2 (Sổ thai): Kéo dài từ khi cổ tử cung mở trọn đến khi thai nhi ra ngoài hoàn toàn (trung bình 30 phút, tối đa 1 giờ), được thúc đẩy bởi lực co bóp tử cung phối hợp cơ thành bụng.
- Giai đoạn 3 (Sổ rau): Bắt đầu từ khi thai sổ xong đến khi bánh rau và màng rau thoát ra ngoài hoàn toàn, kéo dài từ 15 đến 30 phút. Đây là giai đoạn tiềm ẩn nguy cơ xuất huyết cao nhất.
Chuyên đề phân tích chi tiết tai biến chảy máu sau đẻ (lượng máu mất trên 500 ml hoặc gây rối loạn huyết động trong 24 giờ đầu), chỉ ra 5 nhóm nguyên nhân chính:
- Đờ tử cung: Cơ tử cung mất khả năng co rút tạo khối cầu an toàn để tắc mạch sinh lý (gồm đờ tử cung còn phục hồi và không phục hồi).
- Chấn thương đường sinh dục: Rách âm hộ, âm đạo, tầng sinh môn, rách cổ tử cung, vỡ tử cung hoặc tụ máu đường sinh dục.
- Bất thường bong và sổ rau: Sót rau, sót màng rau hoặc rau không bong sau 30 phút.
- Rối loạn đông máu: Tiên phát do bệnh lý về máu hoặc thứ phát do đông máu nội mạch rải rác (DIC), rau bong non, tiền sản giật nặng.
- Lộn lòng tử cung: Toàn phần hoặc bán phần, là cấp cứu sản khoa nghiêm trọng.
Về sinh lý trẻ sơ sinh đủ tháng, tác giả nêu các chỉ số chuẩn: cân nặng > 2.500 g, chiều dài > 45 cm, vòng đầu 32–35 cm (lớn hơn vòng ngực 1–2 cm), da hồng hào, lớp mỡ dưới da phát triển, phản xạ nguyên thủy dương tính (bú, Moro, Robinson, bước đi tự động). Các hiện tượng sinh lý sau sinh cần được theo dõi sát gồm: biến động thân nhiệt (giảm xuống 36°C sau 2–3 giờ rồi hồi phục 36,8–37°C sau 12–24 giờ), vàng da sinh lý (chiếm 80–85% từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 do vỡ hồng cầu chứa HbF và gan chưa hoàn thiện men glucuronyl transferase), sút cân sinh lý (từ 4–8%, không vượt quá 10%).
Tổng quan y văn quốc tế cho thấy nhiều nghiên cứu (như USAID/POPPHI 2006 tại 15 trung tâm sản khoa, Cynthia Stanton 2009 tại 7 quốc gia) chỉ ra tỷ lệ thực hành đúng quy trình AMTSL chỉ đạt từ 0,5% đến 32% do thiếu sót kỹ năng và đào tạo. Tại Việt Nam, báo cáo đánh giá người đỡ đẻ có kỹ năng (2011) của Bộ Y tế ghi nhận chỉ 14% cán bộ y tế được đào tạo bài bản về xử trí tích cực giai đoạn 3 và chỉ có 12% hộ sinh thực hiện đầy đủ 6 bước chăm sóc thiết yếu theo quy định.
Chương 2: Liên hệ thực tiễn chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ thường tại Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí năm 2022
Chương 2 giới thiệu về đơn vị nghiên cứu và trình bày chi tiết các số liệu thu được qua quá trình khảo sát 50 ca đẻ thường tại Khoa Sản điều trị theo yêu cầu. Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí là bệnh viện đa khoa khu vực hạng 1 thành lập năm 1981, chịu trách nhiệm khám chữa bệnh cho khu vực Đông Bắc (Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng). Khoa Sản điều trị theo yêu cầu có đầy đủ hệ thống phòng tiếp đón, phòng chờ đẻ, phòng đẻ, phòng hậu sản, phòng hậu phẫu, phòng tắm bé và phòng cấp cứu.
Kết quả quan sát 50 ca thực hành 6 bước chăm sóc thiết yếu của hộ sinh được ghi nhận như sau:
- Lau khô, ủ ấm và tiếp xúc da kề da: 100% trẻ được lau khô toàn thân theo đúng trình tự trong 5 giây đầu sau sinh và đội mũ che đầu. Tỷ lệ trẻ được đặt tiếp xúc da kề da ngay sau sinh đạt 96% (48/50 ca). Tuy nhiên, hầu hết các ca đều chưa đảm bảo duy trì đủ thời gian tối thiểu 90 phút liên tục theo khuyến cáo.
- Tiêm bắp 10 UI Oxytocin: Đạt tỷ lệ tuyệt đối 100% (50/50 ca). Các hộ sinh đều tuân thủ kiểm tra nắn bụng loại trừ song thai trước khi tiêm vào mặt trước đùi sản phụ.
- Kẹp dây rốn muộn và cắt dây rốn một thì: Đạt tỷ lệ 98% (49/50 ca) thực hiện kẹp rốn muộn sau khi dây rốn ngừng đập (1–3 phút) và cắt một thì bằng dụng cụ vô trùng; có 2% (1 ca) phải kẹp cắt rốn sớm do trẻ có dấu hiệu suy hô hấp cần chuyển bàn hồi sức.
- Kéo dây rốn có kiểm soát: Đạt 88% (44/50 ca) thực hiện đúng quy trình phối hợp bàn tay ấn ngược tử cung về phía xương ức; có 12% (6 ca) hộ sinh thao tác sai kỹ thuật (kéo khi chưa xuất hiện cơn co tử cung hoặc kéo sai hướng giải phẫu).
- Xoa đáy tử cung 15 phút/lần trong 2 giờ: Đạt 100% (50/50 ca) có thực hiện xoa đáy tử cung hoặc hướng dẫn sản phụ tự xoa, nhưng hầu hết không duy trì đủ thời lượng 2 giờ liên tục sau đẻ.
- Hỗ trợ cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn: Đạt tỷ lệ 90% (45/50 ca) trẻ được hỗ trợ ngậm bắt núm vú và bú những giọt sữa non đầu tiên ngay trong giờ đầu sau sinh.
Chương 3: Bàn luận
Chương 3 tập trung phân tích sâu các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong từng bước kỹ thuật, so sánh đối chiếu với các nghiên cứu tương đồng và thiết lập hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc.
Khi so sánh với nghiên cứu của Vũ Ngọc Hà (2021) tại Khoa Đẻ – Bệnh viện Phụ sản Nam Định, kết quả tại Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí năm 2022 có nhiều chỉ số tương đương hoặc vượt trội: tỷ lệ tiếp xúc da kề da đạt 96% (so với 94%), kẹp rốn muộn đạt 98% (so với 96%), kéo dây rốn sai kỹ thuật giảm xuống 12% (so với 22%), và tỷ lệ hỗ trợ bú sớm đạt 90% (so với 76%). Tác giả chỉ ra nguyên nhân là do Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí có bề dày đào tạo điều dưỡng, hộ sinh với trình độ chuẩn hóa cao, đồng thời mặt bằng nhận thức và điều kiện kinh tế của người dân địa phương giúp tăng cường sự hợp tác giữa sản phụ và nhân viên y tế.
Tuy nhiên, các hạn chế còn tồn tại được bóc tách nguyên nhân cụ thể:
- Thời gian da kề da chưa đủ 90 phút: Do sản phụ mệt mỏi sau rặn đẻ, tâm lý sợ rơi con ở người sinh con so, sản phụ e ngại chất bẩn cần vệ sinh sạch mới yên tâm, hoặc áp lực phải giải phóng bàn đẻ để đón ca sinh tiếp theo.
- Kéo dây rốn chưa đúng kỹ thuật (12%): Do hộ sinh thực hiện theo thói quen cũ, nóng vội kéo khi tử cung chưa co bóp hoặc thiếu kỹ năng thực hành chuẩn.
- Xoa đáy tử cung không duy trì đủ 2 giờ: Do hộ sinh cùng lúc phải phụ trách nhiều ca đẻ, sản phụ mệt ngủ thiếp đi hoặc gia đình lơ là vì nghĩ rằng cuộc đẻ đã hoàn tất an toàn.
- Trẻ chưa được bú sớm (10%): Do công tác tư vấn tiền sản chưa sâu, người nhà có xu hướng bế ẵm ủ ấm riêng làm gián đoạn tiếp xúc mẹ - con.
Trên cơ sở đó, chuyên đề xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ trên 3 phương diện:
HỆ THỐNG GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT
ĐỐI VỚI NỮ HỘ SINH ĐỐI VỚI LÃNH ĐẠO/KHOA ĐỐI VỚI SẢN PHỤ
- Tuân thủ đủ quy trình - Đào tạo lại, cầm tay chỉ - Tham gia lớp tiền sản
- Đảm bảo thời gian 90p việc cho hộ sinh trẻ - Nắm rõ "Lợi ích của
- Giám sát xoa tử cung - Kiểm tra chéo, lắp camera cái ôm đầu tiên"
- Rèn luyện kỹ năng mềm - Giảm tải, bổ sung biên chế - Tích cực cho bú sớm
- Đối với hộ sinh:
- Nâng cao nhận thức về vai trò sống còn của EENC trong việc giảm tử vong mẹ và sơ sinh.
- Tuân thủ tuyệt đối quy trình kỹ thuật, không cắt xén bước hoặc rút ngắn thời gian quy định (đặc biệt là duy trì da kề da đủ 90 phút và xoa đáy tử cung đủ 2 giờ).
- Tham gia đầy đủ các lớp đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức mới và rèn luyện kỹ năng giao tiếp, tư vấn.
- Đối với lãnh đạo khoa và bệnh viện:
- Tổ chức các khóa đào tạo lại theo phương thức "cầm tay chỉ việc", đặc biệt cho hộ sinh trẻ.
- Tăng cường kiểm tra định kỳ, kiểm tra chéo và kiểm tra đột xuất; lắp đặt hệ thống camera hỗ trợ giám sát thực hành quy trình.
- Bổ sung nhân lực cho khoa đẻ nhằm giảm áp lực quá tải, xây dựng chính sách khen thưởng và phụ cấp phù hợp.
- Tổ chức hội thi tay nghề hộ sinh hàng năm; cung cấp tờ rơi truyền thông EENC tại phòng khám sản và phòng chờ đẻ.
- Đối với sản phụ và cộng đồng:
- Tổ chức các lớp học tiền sản hàng tuần tại bệnh viện để phổ biến kiến thức về "Lợi ích của cái ôm đầu tiên" và kỹ năng cho con bú sớm.
- Hướng dẫn sản phụ và người nhà phối hợp tự xoa đáy tử cung đúng cách để phát hiện sớm dấu hiệu đờ tử cung.
Kết quả và đóng góp
Bảng tổng hợp kết quả thực hành 6 bước chăm sóc thiết yếu
| STT |
Nội dung can thiệp kỹ thuật (EENC) |
Tỷ lệ đạt tại BV VN-TĐ Uông Bí 2022 (n=50) |
Tỷ lệ trong nghiên cứu Vũ Ngọc Hà 2021 (Nam Định) |
Đánh giá mức độ tuân thủ quy trình |
| 1 |
Lau khô trong 5s và tiếp xúc da kề da |
96% |
94% |
Lau khô đạt 100%; da kề da đạt 96% nhưng chưa đủ 90 phút |
| 2 |
Tiêm bắp 10 UI Oxytocin sau sổ thai |
100% |
100% |
Đạt 100% đúng chỉ định, đúng liều lượng và vị trí |
| 3 |
Kẹp dây rốn muộn và cắt rốn một thì |
98% |
96% |
Đạt 98% đúng thời điểm (1–3 phút); 2% kẹp sớm do hồi sức |
| 4 |
Kéo dây rốn có kiểm soát |
88% |
78% (sai 22%) |
88% đúng kỹ thuật; còn 12% kéo khi chưa có cơn co tử cung |
| 5 |
Xoa đáy tử cung 15 phút/lần trong 2 giờ |
100% |
100% |
Đạt 100% có thực hiện nhưng chưa đảm bảo đủ 2 giờ |
| 6 |
Hỗ trợ cho trẻ bú sớm trong giờ đầu |
90% |
76% |
Đạt 90% trẻ được tiếp cận bầu vú mẹ và bú sữa non sớm |
Đóng góp thực tiễn của đề tài
- Cung cấp bức tranh toàn diện và số liệu thực chứng đầu tiên về mức độ tuân thủ hướng dẫn Quyết định số 4673/QĐ-BYT tại Khoa Sản điều trị theo yêu cầu – Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí.
- Xác định rõ những "điểm nghẽn" kỹ thuật mà hộ sinh thường mắc phải trong thực tế lâm sàng: rút ngắn thời gian tiếp xúc da kề da (< 90 phút), thao tác kéo rốn khi chưa có cơn co (12%), và xoa đáy tử cung không đủ thời lượng 2 giờ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi cao, gắn liền với quản trị chất lượng bệnh viện (đào tạo tại chỗ, giám sát bằng camera, truyền thông qua lớp học tiền sản).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi và cỡ mẫu: Nghiên cứu mới được tiến hành trên cỡ mẫu 50 ca đẻ thường tại một khoa dịch vụ (Khoa Sản điều trị theo yêu cầu), chưa bao quát toàn bộ các ca sinh tại Khoa Đẻ thường hoặc các nhóm sản phụ có bệnh lý kèm theo.
- Hạn chế về đối tượng theo dõi: Chuyên đề tập trung vào các ca đẻ thường qua đường âm đạo, chưa đánh giá việc áp dụng quy trình chăm sóc thiết yếu trong và ngay sau mổ lấy thai.
- Hiệu ứng quan sát (Hawthorne effect): Do sử dụng phương pháp quan sát có tham dự trực tiếp, hành vi thực hành của hộ sinh có thể chỉn chu hơn so với khi làm việc độc lập không có người giám sát.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát trên cỡ mẫu lớn hơn tại toàn bộ các khoa lâm sàng sản khoa của bệnh viện; nghiên cứu can thiệp đánh giá hiệu quả của các giải pháp cải tiến chất lượng và mở rộng đánh giá quy trình EENC trên đối tượng mổ lấy thai.
Giá trị tham khảo
Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng trong hệ thống y tế:
- Học viên và sinh viên ngành Hộ sinh, Điều dưỡng, Y đa khoa: Nguồn tài liệu học tập cụ thể về các bước thao tác lâm sàng chuẩn hóa theo hướng dẫn của Bộ Y tế và WHO trong xử trí đẻ thường và giai đoạn 3 chuyển dạ.
- Nữ hộ sinh và cán bộ y tế sản khoa: Tài liệu đối chiếu, tự rà soát và chấn chỉnh các thói quen thao tác lâm sàng chưa chuẩn xác (kéo rốn sớm, cắt xén thời gian ủ ấm da kề da).
- Cán bộ quản lý điều dưỡng và lãnh đạo khoa Sản: Cơ sở thực tế để xây dựng bảng kiểm giám sát, lập kế hoạch đào tạo liên tục, bố trí nhân lực và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sản phụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Sáu bước chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ (EENC) gồm những gì?
Quy trình EENC chuẩn theo Quyết định 4673/QĐ-BYT gồm: (1) Lau khô và ủ ấm, cho trẻ tiếp xúc da kề da liên tục ít nhất 90 phút; (2) Tiêm bắp 10 UI Oxytocin sau khi đã loại trừ song thai; (3) Kẹp dây rốn muộn (1–3 phút sau đẻ) và cắt một thì; (4) Kéo dây rốn có kiểm soát khi có cơn co; (5) Xoa đáy tử cung 15 phút/lần trong 2 giờ đầu; (6) Hỗ trợ trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn trong giờ đầu.
2. Tại sao quy trình khuyến cáo kẹp dây rốn muộn từ 1 đến 3 phút sau khi sinh?
Kẹp dây rốn muộn giúp trẻ nhận thêm khoảng 80–100 ml máu từ bánh rau, cung cấp lượng sắt tương đương 40–50 mg/kg thể trọng. Lượng sắt này kết hợp với dự trữ sẵn có giúp trẻ ngăn ngừa nguy cơ thiếu máu thiếu sắt trong năm đầu đời, giảm tỷ lệ xuất huyết não do giảm prothrombin và giảm nhu cầu truyền máu ở trẻ sơ sinh non yếu, nhẹ cân.
3. Tỷ lệ tuân thủ kỹ thuật kéo dây rốn có kiểm soát trong nghiên cứu đạt kết quả ra sao và còn sai sót gì?
Nghiên cứu ghi nhận 88% hộ sinh thực hiện đúng kỹ thuật. Còn 12% trường hợp thực hiện sai do chưa xuất hiện cơn co tử cung đã vội vã kéo dây rốn hoặc thao tác kéo không đúng cơ chế đường cong khung chậu, tiềm ẩn nguy cơ đứt dây rốn hoặc lộn đáy tử cung.
4. Nguyên nhân chính khiến bước tiếp xúc da kề da chưa duy trì đủ 90 phút là gì?
Các nguyên nhân chính gồm: sản phụ kiệt sức sau sinh chưa muốn ôm con; tâm lý lo sợ làm rơi con (nhất là người sinh con so); sản phụ sợ bẩn muốn nhân viên y tế mặc quần áo cho trẻ trước; và áp lực giải phóng bàn đẻ chuyển sản phụ sang giường theo dõi để phục vụ ca sinh tiếp theo.
5. Bước xoa đáy tử cung sau đẻ mang lại lợi ích gì và thực trạng thực hiện tại bệnh viện như thế nào?
Xoa đáy tử cung giúp kích thích cơ tử cung co chặt tạo khối cầu an toàn, giảm lượng máu mất, giảm nhu cầu dùng thêm thuốc co hồi và phát hiện sớm hiện tượng đờ tử cung gây băng huyết. Tại bệnh viện, 100% ca sinh đều được thực hiện xoa đáy tử cung nhưng phần lớn chưa đảm bảo đủ tần suất và thời lượng kéo dài liên tục 2 giờ đầu sau đẻ.
Kết luận
Báo cáo chuyên đề của học viên Nguyễn Thị Nga đã phản ánh trung thực và toàn diện thực trạng áp dụng 6 bước chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ thường tại Khoa Sản điều trị theo yêu cầu – Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí năm 2022. Mặc dù các kỹ thuật tiêm Oxytocin (100%), kẹp rốn muộn (98%), da kề da (96%) và cho trẻ bú sớm (90%) đạt tỷ lệ thực hiện rất cao, nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại cần khắc phục về mặt thời lượng tiếp xúc da kề da, kỹ thuật kéo dây rốn và thời gian duy trì xoa đáy tử cung. Hệ thống giải pháp đồng bộ từ đào tạo chuyên môn cho hộ sinh, tăng cường giám sát của lãnh đạo đến đẩy mạnh giáo dục tiền sản cho sản phụ là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng chăm sóc sản khoa, góp phần giảm thiểu tử vong mẹ và trẻ sơ sinh.