Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Việt Nam 1. Khái niệm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đất đai là sản phẩm của tự nhiên có trước lao động của con người, cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội. Đất đai giữ một vai trò rất quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Trong Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên nước ta xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Ở đây Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất đai, mà Nhà nước trao QSDĐ cho NSDĐ bao gồm như: giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển nhượng QSDĐ hoặc công nhận QSDĐ cho NSDĐ ổn định lâu dài và quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, quyết định giá đất, quyết định giao đất, trao QSDĐ và thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh - quốc phòng để phục vụ cho lợi ích quốc gia, các công trình công cộng và các dự án kinh tế - xã hội theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1, Điều 105 của Bộ Luật dân sự năm 2015 trong đó“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Theo khái niệm này, nếu như xem GCNQSDĐ là một loại tài sản thì nó sẽ là vật, còn nếu như hiểu theo tiêu chí lý học thì vật là một đối tượng tồn tại được xác định bởi các đơn vị đo lường, với tính chất lý hoá cụ thể và có thể được xem như một đối tượng là hàng hoá, khi trao đổi hoặc mua loại giấy tờ này thì người mua phải thanh toán cho người bán một số tiền theo sự thoả thuận giữa hai bên và người mua cũng chỉ mua tờ giấy và được tính bằng đơn vi đo lường chứ không mua được các quyền về tài sản được ghi nhận trên giấy, tương tự như vậy thì người bán 9 Luan van cũng chỉ bán giấy tờ, chứ không bán được quyền về tài sản ghi nhận chuyển tài sản trên GCNQSDĐ.
Tuy nhiên, về bản chất thì GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý trong đó được ghi nhận các thông tin về thửa đất và quyền của NSDĐ cụ thể là quyền về tài sản. Kể từ khi nước ta lần đầu tiên ban hành Luật Đất đai số 3- LCT/HĐNN8 ngày 29 tháng 12 năm 1987 của Quốc Hội. Việc đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính việc cơ quan quản lý Nhà nước cấp GCNQSDĐ chưa quy định rõ ràng cụ thể về việc GCNQSDĐ là loại giấy được quy định như thế nào. Tuy nhiên GCNQSDĐ được đề cập từ Quyết định số 201/ĐKTK ngày 14 tháng 7 năm 1989 do Tổng cục Quản lý ruộng đất ban hành và quy định về việc cấp GCNQSDĐ.
Theo đó, việc ra đời của Thông tư số 302/ĐKTK ngày 28 tháng 10 năm 1989 của Tổng cục quản lý ruộng đất hướng dẫn thi hành Quyết định về việc Nhà nước cấp GCNQSDĐ trong đó có quy định về GCNQSDĐ, từng bước giúp cho việc Nhà nước quản lý đất đai và hoạt động cấp GCNQSDĐ dễ dàng hơn, giải quyết các vấn đề còn khó khăn, vướng mắc. Bên cạnh đó, trước sự ra đời của Luật Đất đai số 24-L/CTN ngày 14 tháng 7 năm 1993 nhằm được xây dựng trên nền tảng Luật Đất đai 1987 giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai và hoạt động cấp GCNQSDĐ có phát huy hơn theo quy định cũ không còn phù hợp. Tuy nhiên, hoạt động cấp GCNQSDĐ trong thời gian này cũng chưa phát triển mạnh, do NSDĐ chưa quan tâm, công tác quản lý đất đai còn hạn chế, chưa được quản lý chặt chẽ, các quy định pháp luật về đất đai còn rãi rác thiếu tập trung thống nhất và gặp nhiều khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai và hoạt động cấp GCNQSDĐ. Để thấy rõ hơn về GCNQSDĐ, sự ra của Luật Đất đai số 13/2003/QH 11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc Hội về Đất đai, trong đó quy định tại khoản 20 Điều 4 có khái niệm về GCNQSDĐnhư sau: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà có thẩm quyền cấp 10 Luan van cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”.
Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai 2003 thì GCNQSDĐ, trong đó quy định rõ về GCNQSDĐ do cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai xác lập mối quan hệ pháp lý với NSDĐ và Nhà nước có nghĩa vụ bảo hộ quyền và lợi ích của NSDĐ trong quá trình sử dụng đất. Đồng thời giúp cho Nhà nước dễ dàng kiểm soát chặt chẽ hơn, khi có phát sinh tranh chấp về đất đai xảy ra. Song song đó, các quy định cũ không còn phù hợp với tình hình thực tế, các quy định mới được mở rộng thêm về hoạt động cấp GCNQSDĐ và tạo điều kiện cho NSDĐ dễ dàng được Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Để điều chỉnh các quy định pháp luật không còn phù hợp, gây ảnh hưởng đến hoạt động cấp GCNQSDĐ, cho nên cần sửa đổi, bổ sung các quy định trong Luật Đất đai 2003 trong hoạt động về việc cấp GCNQSDĐ cho phù hợp với tình hình hiện nay.
Theo đó, việc ban hành Luật số 38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 sửa đổi, bổ sung một số điều các Luật có liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản, được khái niệm về GCNQSDĐ quy định tại khoản 1, Điều 4 như sau: “20. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”. Theo khái niệm GCNQSDĐ là do cơ quan quản lý Nhà nước cấp cho NSDĐ trong đó xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với NSDĐ nhằm bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quá trình sử dụng đất và giúp cho Nhà nước dễ dàng giải quyết các phát sinh tranh chấp về đất đai. Do đó, việc Nhà nước cấp GCNQSDĐ phải được công khai, minh 11 Luan van bạch, rõ ràng không gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, trong quá trình sử dụng đất.
Để cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai dễ dàng, kiểm soát thì hoạt động cấp GCNQSDĐ cho NSDĐ là rất cần thiết và luôn được nhiều NSDĐ quan tâm. Vì vậy, Nhà nước quản lý đất đai bằng GCNQSDĐ giúp cho việc nắm bắt thông tin kịp thời, là cơ sở để giải quyết phát sinh tranh chấp về đất đai thuận lợi hơn. Trước đây các quy định về GCNQSDĐ do các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai có thẩm quyền khác nhau ban hành còn rãi rác, thiếu sự thống nhất chung nên trong hoạt động cấp GCNQSDĐ còn gặp nhiều khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Một lần nữa, việc ra đời của Luật Đất đai 2013 được xây dựng trên cơ sở nền tảng của Luật Đất đai năm 2003 và có khái niệm rõ ràng về GCNQSDĐ quy định tại khoản 16, Điều 3 trong đó có đề cập đến tài sản gắn liền với đất: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.
Khác với GCNQSDĐ quy định của Luật Đất đai 2003 được sửa, đổi bổ sung từ Luật số 38/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật có liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản. Trong đó, Luật Đất đai 2013 quy định GCNQSDĐ được xem “là chứng thư pháp lý” khác quy định của Luật Đất đai 2003, mẫu GCNQSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 3 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Bộ TN&MT và được thống nhất sử dụng cho đến hiện nay. Theo đó, để hiểu rõ hơn về các loại giấy tờ khác về đất đai với GCNQSDĐ như sau: 12 Luan van Cần phân biệt quyết định giao đất, cho thuê đất và GCNQSDĐ: Khác nhau giữa quyết định giao đất, cho thuê đất và GCNQSDĐ là ở bản chất pháp lý. Khi Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất làm phát sinh quan hệ đất đai về GCNQSDĐ, là chứng thư pháp lý ghi nhận tính hợp pháp và được xác lập quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với NSDĐ thông qua GCNQSDĐ để NSDĐ an tâm hơn trong quá trình quản lý và sử dụng đất.
Khác nhau giữa các giấy tờ hợp lệ nói chung về đất đai và GCNQSDĐ: Các giấy tờ đầy đủ, hợp lệ về đất đai không thể thay thế cho giấy GCNQSDĐ. Vì GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý do cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai có thẩm quyền xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và NSDĐ. Về mặt giá trị pháp lý, GCNQSDĐ có giá trị cao nhất và chỉ khi NSDĐ có được thì mới thực hiện trọn vẹn quyền năng của mình. Các loại GCNQSDĐ qua các thời kỳ: GCNQSDĐ qua các thời kỳ do các cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành, thật sự chưa được thống nhất chung trên phạm vi cả nước, cho nên hoạt động cấp GCNQSDĐ chưa được phát triển mạnh.