Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bối cảnh thực tiễn

Huyện Tịnh Biên là một trong hai huyện bán sơn địa thuộc tỉnh An Giang, mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt cao quanh năm và sự phân hóa sâu sắc giữa mùa mưa và mùa khô. Địa bàn có hai dân tộc chính là Kinh và Khmer cùng sinh sống, hoạt động sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo với sinh kế chính là trồng lúa và rau màu. Tại các vùng tập trung đông đồng bào dân tộc Khmer, phương thức canh tác nông nghiệp phần lớn vẫn mang tính tự phát, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và tập quán truyền thống, mức độ ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật còn hạn chế.

Nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất tại địa phương chủ yếu dựa vào hệ thống sông ngòi, kênh mương, nước mưa, nước máy và nước suối. Tuy nhiên, dưới tác động kép của biến đổi khí hậu toàn cầu và sự phát triển các công trình thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông, chế độ thủy văn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và huyện Tịnh Biên nói riêng có nhiều biến động tiêu cực. Lượng nước mặt suy giảm trong mùa khô, mùa lũ về muộn với đỉnh lũ thấp lịch sử, làm suy giảm lượng phù sa và gia tăng tính chất khắc nghiệt của hạn hán.

Tại xã Nhơn Hưng, địa bàn sản xuất bị phân hóa rõ rệt bởi tuyến kênh Vĩnh Tế:

  • Khu vực bờ Bắc kênh Vĩnh Tế: Địa hình trũng thấp, nằm ngoài đê bao kiểm soát lũ triệt để, nguồn nước mặt dồi dào từ kênh Vĩnh Tế cho phép canh tác lúa 2 vụ/năm nhưng đối mặt với rủi ro lũ sớm và ngập úng.
  • Khu vực bờ Nam kênh Vĩnh Tế: Địa hình đồi núi dốc, hệ thống thủy lợi chưa hoàn thiện, người dân chủ yếu canh tác "lúa ruộng trên" 1 vụ vào mùa mưa, dẫn đến tình trạng thiếu nước tưới tiêu nghiêm trọng vào mùa khô.

Trước thực tế đó, việc tìm hiểu tác động của tình trạng khan hiếm nước và phân tích thực trạng chuyển đổi mô hình canh tác nông nghiệp của nông hộ là yêu cầu cấp thiết nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn cho các chính sách hỗ trợ phát triển nông thôn tại địa phương.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu chung: Khảo sát thực trạng thay đổi mô hình canh tác nông nghiệp thích ứng với điều kiện khan hiếm nước ở xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2021.

Mục tiêu cụ thể:

  1. Tìm hiểu hiện trạng về sự thay đổi và biến động của tài nguyên nước trong canh tác nông nghiệp tại địa phương.
  2. Tìm hiểu sự chuyển đổi trong sinh kế nông nghiệp của người dân để thích ứng với điều kiện khan hiếm nước.
  3. Phân tích những thuận lợi và khó khăn của người dân trong quá trình chuyển đổi mô hình sinh kế nông nghiệp nhằm thích ứng với tình trạng khan hiếm nước.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Hiện trạng về nguồn nước được sử dụng với mục đích canh tác nông nghiệp tại địa bàn xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên như thế nào?
  2. Những thay đổi trong mô hình sinh kế của người dân từ năm 2010 đến năm 2021 diễn ra như thế nào?
  3. Những thuận lợi và khó khăn gì mà người dân gặp phải trong quá trình thay đổi mô hình canh tác?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng nguồn tài nguyên nước và các mô hình sinh kế nông nghiệp (lúa ruộng dưới, lúa ruộng trên, hoa màu, chăn nuôi gia súc) của nông hộ.
  • Phạm vi không gian: Xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (tập trung khảo sát thực địa tại ấp Đông Hưng và ấp Tây Hưng).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2022 đến tháng 05/2022; giai đoạn thu thập dữ liệu biến động canh tác từ năm 2010 đến năm 2021.
  • Phạm vi nội dung: Đánh giá nhận thức của nông hộ về biến động nguồn nước, cơ cấu sản xuất nông nghiệp hiện tại và các rào cản chuyển đổi mô hình sinh kế thích ứng hạn hán, thiếu nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Đề tài vận dụng các khái niệm chuẩn hóa trong khoa học nông nghiệp và văn bản pháp quy hiện hành:

  • Tài nguyên nước, nước mặt, nước ngầm, nước mưa: Được xác định theo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012.
  • Suy giảm nguồn nước (water degradation): Sự suy giảm về số lượng và chất lượng nguồn nước so với trạng thái tự nhiên hoặc trạng thái quan trắc trong các thời kỳ trước đó (Điều 2 Luật Tài nguyên nước 2012).
  • Cạn kiệt nguồn nước (running out of water): Sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng nguồn nước, làm mất khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh (Điều 2 Luật Tài nguyên nước 2012).
  • Hệ thống nông nghiệp, hệ thống canh tác, hệ thống trồng trọt, hệ thống chăn nuôi: Dựa trên khung phân loại hệ thống nông nghiệp của Nguyễn Bảo Vệ và Nguyễn Thị Xuân Thu (2005).
  • Khái niệm Thích ứng (adaptation): Quá trình tự điều chỉnh và tìm kiếm giải pháp xử lý nhằm giảm thiểu tổn thương trước các biến động môi trường và thời tiết.

Bên cạnh đó, đề tài tham chiếu các chủ trương, chính sách quản lý tài nguyên và hỗ trợ sinh kế:

  • Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14/04/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020.
  • Quyết định số 1553/QĐ-TTg ngày 08/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh Chương trình điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất để cung cấp nước sinh hoạt ở các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước.
  • Chương trình mục tiêu quốc gia 135 giai đoạn 2015–2020 trên địa bàn huyện Tịnh Biên (tổng vốn hỗ trợ sản xuất 3,31 tỷ đồng, triển khai 45 lớp dạy nghề, 55 mô hình sản xuất, hỗ trợ con giống cho 404 hộ nghèo, cận nghèo).
  • Dự án Chuyển đổi Nông nghiệp Bền vững tại Việt Nam (VnSAT) và Dự án Nâng cấp, cải tạo tuyến kênh Vĩnh Tế thích ứng biến đổi khí hậu (chiều dài gần 42 km).

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra thực địa sơ cấp:

Phương pháp Quy mô / Nguồn dữ liệu Nội dung thu thập
Thu thập số liệu thứ cấp - Niên giám thống kê huyện Tịnh Biên (2019)
- Báo cáo tổng kết nông nghiệp xã Nhơn Hưng (2020)
- Kế hoạch sản xuất Phòng NN-PTNT Tịnh Biên (2016, 2017)
- Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên (2021)
Điều kiện tự nhiên, địa hình, lượng mưa, thủy văn, cơ cấu kinh tế - xã hội, quy hoạch thủy lợi và các chương trình hỗ trợ sản xuất.
Phỏng vấn người am hiểu (KIP) $n = 2$ cán bộ địa phương:
- 01 Cán bộ phụ trách nông nghiệp xã Nhơn Hưng
- 01 Cán bộ phụ trách thủy lợi xã Nhơn Hưng
Thực trạng sản xuất nông nghiệp, diễn biến biến đổi khí hậu, hiện trạng hạ tầng thủy lợi, nhóm đối tượng chịu tổn thương nặng nề nhất và các giải pháp thích ứng cấp địa phương.
Phỏng vấn nông hộ $n = 20$ hộ dân sinh sống và canh tác từ trước năm 2010 đến 2021 tại ấp Đông Hưng và ấp Tây Hưng Nguồn lực sinh kế, nguồn nước sử dụng chính, nhận thức về biến động lũ và mưa, chi phí bơm tưới, lịch sử thay đổi cây trồng/vật nuôi từ 2010–2021, thuận lợi và rào cản khi chuyển đổi.

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Dữ liệu khảo sát từ 20 bảng hỏi nông hộ được mã hóa, tổng hợp và xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình) thông qua phần mềm Microsoft Excel 2010 nhằm so sánh sự khác biệt giữa hai vùng sinh thái canh tác.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương này nêu rõ tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh biến đổi khí hậu tác động trực tiếp đến an ninh nguồn nước vùng Bảy Núi. Trình bày hệ thống mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể), 3 câu hỏi nghiên cứu trọng tâm và xác định giới hạn nghiên cứu về không gian (xã Nhơn Hưng), thời gian (tháng 01–05/2022, chuỗi số liệu 2010–2021) và nội dung chuyên môn.

Chương 2: Lược khảo tài liệu

Chương 2 tổng quan về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Nhơn Hưng (diện tích 19,67 km², dân số 6.095 người, mật độ 264 người/km²; lượng mưa trung bình 1.478 mm/năm phân bổ qua 128 ngày mưa; mùa mưa chiếm 90% lượng mưa từ tháng 5–11, mùa khô chiếm 10% từ tháng 12–4). Phân tích mạng lưới thủy văn chịu ảnh hưởng bởi bán nhật triều sông Hậu qua kênh Vĩnh Tế (dọc tuyến có 13 cống điều tiết), kênh Trà Sư, kênh Nhơn Thới. Hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành, nguyên nhân khách quan (BĐKH, thủy điện thượng nguồn làm giảm 35–40% lượng mưa thượng nguồn năm 2019, mực nước lũ ĐBSCL thấp hơn trung bình 0,4–0,7 m) và nguyên nhân chủ quan (chưa tích trữ nước, lãng phí nước tưới) gây khan hiếm nước; đồng thời tổng kết các chính sách hỗ trợ phát triển (Chương trình 135, VnSAT, Quyết định 81/2006/QĐ-TTg, Quyết định 1553/QĐ-TTg).

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu, thiết kế phiếu khảo sát bán cấu trúc cho 2 KIP và 20 nông hộ tại ấp Đông Hưng và Tây Hưng. Mô tả kỹ thuật chọn mẫu mục đích đối với các hộ có lịch sử canh tác liên tục trên 10 năm và quy trình làm sạch, mã hóa, phân tích dữ liệu thống kê mô tả trên Excel 2010.

Chương 4: Kết quả thảo luận

Chương 4 tập trung phân tích thực nghiệm các phát hiện từ khảo sát thực địa:

1. Biến động tài nguyên nước và khả năng tiếp cận

  • Nguồn nước lũ: 70% nông hộ nhận định lượng nước lũ đổ về ngày càng ít và suy giảm quy mô, thời gian lũ về muộn hơn; 30% cho rằng không đổi; 0% nhận định tăng. Lũ nhỏ làm giảm lượng phù sa bồi đắp, tăng chi phí phân bón hóa học.
  • Nguồn nước mưa: 50% hộ đánh giá lượng mưa không đổi (chủ yếu là hộ bờ Bắc có nguồn nước mặt dồi dào); 40% nhận định lượng mưa suy giảm (chủ yếu là đồng bào Khmer canh tác ruộng trên tại ấp Tây Hưng); 10% nhận định mưa diễn biến bất thường, tăng mưa trái mùa cuối vụ.
  • Nguồn nước sử dụng và khả năng tiếp cận:
    • Nước sinh hoạt: 20/20 hộ (100%) tiếp cận và sử dụng nước máy sinh hoạt hợp vệ sinh.
    • Nước trồng trọt: 12/20 hộ (60%) sử dụng nước mặt từ kênh Vĩnh Tế (đánh giá tiếp cận thuận lợi); 8/20 hộ (40%) phụ thuộc hoàn toàn vào nước mưa (đánh giá tiếp cận khó khăn).
    • Nước ngầm, trạm bơm nhà nước, ao hồ: Chưa được nông hộ khai thác trực tiếp cho tưới tiêu (20/20 hộ đánh giá ở mức bình thường/không sử dụng).
So sánh hai khu vực canh tác tại xã Nhơn Hưng:

2. Chi phí bơm tưới và áp lực kinh tế

Nông dân khu vực bờ Bắc phải phụ thuộc vào các tổ bơm tưới tư nhân/hợp tác xã do chưa có trạm bơm điện nhà nước hoàn chỉnh. Chi phí bơm tưới được tính gộp theo lượng dầu và tiền mặt hoặc lúa. Điển hình tại vụ Đông Xuân 2022, định mức chi phí là 7 lít dầu + 100.000 VNĐ/công, khi giá dầu tăng, tổng chi phí bơm tưới vượt mức 260.000 VNĐ/công, làm suy giảm đáng kể tỷ suất lợi nhuận trồng lúa.

3. Cơ cấu sinh kế và thực trạng chuyển đổi mô hình (2010–2021)

Tổng diện tích canh tác khảo sát là 50,8 ha thuộc 20 hộ dân, phân bổ theo 6 mô hình:

  • Trồng lúa 2 vụ (Đông Xuân - Hè Thu): 13 hộ, tổng diện tích 43,7 ha (chiếm 86,0% diện tích mẫu).
  • Lúa ruộng trên: 2 hộ, diện tích 2,4 ha.
  • Trồng bắp và đậu: 2 hộ, diện tích 3,2 ha (năng suất bắp đạt 1 tấn/công, giá bán 6.000 VNĐ/kg, lợi nhuận ~1 triệu VNĐ/công; đậu năng suất 175 kg/công, giá 25.000 VNĐ/kg, lợi nhuận 1–2 triệu VNĐ/công).
  • Trồng khoai mì: 1 hộ, diện tích 1,5 ha.
  • Chăn nuôi gia súc: 1 hộ nuôi bò (4 con), 1 hộ nuôi heo (25 con), 1 hộ nuôi dê (25 con).
Mô hình chuyển đổi cụ thể Quy mô Nguyên nhân chuyển đổi Kết quả kinh tế ghi nhận
Lúa ruộng trên sang Trồng khoai mì (Hộ ông Chau Sóc Trăng) 2,4 ha Lúa ruộng trên kém hiệu quả; được địa phương hỗ trợ giống, phân bón và bao tiêu đầu ra. Vụ đầu tiên chi phí cải tạo đất cao, năng suất thấp nên lỗ 700.000 VNĐ/ha.
Trồng lúa sang Nuôi dê (Hộ ông Nguyễn Thanh Tuấn) Đàn 25 con Thu nhập từ lúa không đủ chi tiêu; bán đất lúa làm vốn, tự học kỹ thuật nuôi qua tivi, báo đài. Sau 5 năm mô hình ổn định, lợi nhuận đạt khoảng 2,5 triệu VNĐ/con dê xuất bán.
Bắp ruộng trên sang Nuôi heo (Hộ bà Tiêu Thị Hiêm) Đàn 25 con Lượng mưa thất thường gây thiếu nước tưới bắp, dịch bệnh và chuột cắn phá làm giảm thu nhập. Chi phí nuôi 3,2 triệu VNĐ/con, lợi nhuận đạt 2,3 triệu VNĐ/con (cao hơn nhiều so với 1 triệu VNĐ/công bắp).
Lúa ruộng trên sang Nuôi bò (Hộ ông Chau Mâu) Đàn 4 con Lúa ruộng trên bấp bênh, lợi nhuận chỉ 350.000 VNĐ/vụ; tận dụng đất cắt cỏ tự nhiên giảm chi phí. Lợi nhuận đạt từ 35–40 triệu VNĐ/con bò xuất bán, cải thiện kinh tế hộ gia đình rõ rệt.

Tổng thể trong giai đoạn 2010–2021, có 16/20 hộ (80%) giữ nguyên mô hình truyền thống (chủ yếu là vùng lúa 2 vụ bờ Bắc do thói quen lâu đời, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, e ngại rủi ro và hạn chế về chất đất không thích hợp chuyển đổi) và 4/20 hộ (20%) đã chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm thích ứng với tình trạng thiếu nước.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các kết quả nghiên cứu then chốt và đưa ra các nhóm khuyến nghị chính sách đối với cơ quan quản lý và giải pháp kỹ thuật canh tác đối với cộng đồng nông dân tại xã Nhơn Hưng.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Phản ánh sự phân hóa sâu sắc về tài nguyên nước: Nghiên cứu đã lượng hóa được sự khác biệt trong tiếp cận nguồn nước giữa hai bờ kênh Vĩnh Tế. 100% hộ dân tiếp cận được nước máy sinh hoạt, nhưng trong nông nghiệp, nhóm bờ Nam (ruộng trên) chịu rủi ro cao nhất khi 40% ghi nhận lượng mưa sụt giảm và 100% diện tích không tiếp cận được nguồn nước mặt ổn định.
  2. Đánh giá nhận thức về lũ: 70% nông dân khẳng định lũ về muộn và suy giảm thể tích, làm tăng chi phí đầu vào (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) do lượng phù sa tự nhiên suy giảm.
  3. Thực trạng rào cản chuyển đổi sinh kế: Tỷ lệ chuyển đổi còn thấp (20%), chủ yếu diễn ra tại vùng ruộng trên gặp khó khăn về nước tưới. Nông hộ chuyển sang chăn nuôi bò, dê, heo đạt hiệu quả kinh tế vượt trội so với trồng lúa một vụ (bò đạt lợi nhuận 35–40 triệu VNĐ/con, dê đạt 2,5 triệu VNĐ/con, heo đạt 2,3 triệu VNĐ/con). Tuy nhiên, chuyển đổi cây trồng cạn (khoai mì) vụ đầu gặp rủi ro thua lỗ do chi phí cải tạo đất cao.
  4. Xác định áp lực chi phí tưới tiêu: 85% hộ (17/20 hộ) canh tác lúa bờ Bắc chịu áp lực từ chi phí bơm tưới tư nhân do biến động giá xăng dầu (vượt mức 260.000 VNĐ/công ở vụ Đông Xuân 2022).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Về phía nông hộ:
    • Nâng cao ý thức chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; áp dụng các biện pháp tích trữ nước mưa và kỹ thuật tưới tiết kiệm theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây trồng.
    • Tăng cường liên kết cộng đồng, hợp tác chia sẻ nguồn nước tưới giữa các hộ liền kề để duy trì sản xuất quanh năm.
    • Tuân thủ lịch thời vụ xuống giống tập trung nhằm tối ưu hóa việc điều tiết nước từ hệ thống kênh mương và trạm bơm, hạn chế thất thoát và lệch pha cấp nước.
  • Về phía chính quyền và cơ quan quản lý:
    • Đầu tư hoàn thiện hệ thống trạm bơm điện công cộng và các công trình thủy lợi vùng cao (như phát huy hiệu quả công trình Đập Trà Sư, nạo vét kênh Vĩnh Tế, kênh Nhơn Thới) nhằm giảm chi phí bơm tát cho nông dân.
    • Tăng cường hỗ trợ vốn vay ưu đãi, chuyển giao gói kỹ thuật canh tác cây trồng cạn và chăn nuôi gia súc cho đồng bào Khmer nghèo tại vùng ruộng trên.
    • Xây dựng chuỗi liên kết bao tiêu nông sản để giảm thiểu rủi ro biến động thị trường khi nông dân chuyển đổi từ lúa sang màu.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp bức tranh thực địa chi tiết về mối quan hệ giữa biến động tài nguyên nước và hành vi chuyển đổi sinh kế của nông hộ tại một xã biên giới đặc thù của vùng Tứ giác Long Xuyên.
  • Chỉ ra các bằng chứng thực nghiệm về hiệu quả tài chính của các mô hình thích ứng (chăn nuôi đại gia súc, gia súc nhỏ thay thế lúa ruộng trên bấp bênh) phục vụ công tác quy hoạch nông nghiệp cấp cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Quy mô mẫu khảo sát nhỏ: Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 20 nông hộ và 2 cán bộ KIP do giới hạn về nguồn lực và thời gian thực hiện chuyên đề tốt nghiệp đại học, do đó tính đại diện thống kê cho toàn huyện Tịnh Biên chưa cao.
  • Phạm vi không gian hẹp: Địa bàn nghiên cứu mới tập trung chủ yếu tại 2 ấp (Đông Hưng và Tây Hưng) thuộc xã Nhơn Hưng.
  • Phương pháp phân tích: Chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng (như Binary Logistic hoặc Multinomial Logit) để kiểm định định lượng mức độ tác động của từng nhân tố kinh tế - xã hội đến quyết định chuyển đổi sinh kế của nông hộ.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng quy mô điều tra mẫu trên toàn bộ các xã thuộc vùng đồi núi huyện Tịnh Biên và huyện Tri Tôn (vùng Bảy Núi).
  • Ứng dụng các mô hình hồi quy định lượng nhằm xác định rõ các yếu tố quyết định (vốn, diện tích đất, độ tuổi, trình độ học vấn, tiếp cận tín dụng) đến khả năng thích ứng của nông hộ.
  • Đánh giá vòng đời tài chính và tính bền vững sinh thái của các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tưới tiết kiệm trong điều kiện biến đổi khí hậu dài hạn.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu viên các ngành Phát triển Nông thôn, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kinh tế Nông nghiệp, Khoa học Cây trồng.
  • Phần nội dung giá trị:
    • Dữ liệu phỏng vấn thực tế về sự khác biệt sinh thái giữa hai bờ kênh Vĩnh Tế (ruộng trên và ruộng dưới).
    • Phân tích chi tiết hạch toán kinh tế (chi phí, doanh thu, lợi nhuận) của các trường hợp nông hộ chuyển đổi cụ thể từ lúa sang nuôi dê, bò, heo và trồng bắp, đậu, khoai mì.
    • Phương pháp tiếp cận kết hợp giữa quản lý tài nguyên nước và khung sinh kế nông hộ ở cấp độ vi mô.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao có sự khác biệt lớn về phương thức canh tác giữa bờ Bắc và bờ Nam kênh Vĩnh Tế tại xã Nhơn Hưng?

Sự khác biệt bắt nguồn từ yếu tố địa hình và hạ tầng thủy lợi: Bờ Bắc là vùng đồng bằng trũng thấp, nằm ngoài đê bao nhưng tiếp giáp trực tiếp kênh Vĩnh Tế nên nguồn nước mặt dồi dào, chuyên canh lúa 2 vụ (Đông Xuân - Hè Thu). Bờ Nam có địa hình đồi núi dốc, cao hơn mực nước kênh, hệ thống kênh thủy lợi chưa dẫn nước tới được nên người dân canh tác "ruộng trên" phụ thuộc 100% vào nước mưa trong 1 vụ duy nhất hoặc kết hợp chăn nuôi gia súc.

2. Người dân địa phương nhận định như thế nào về sự biến đổi của mùa nước lũ và lượng mưa?

Qua khảo sát 20 nông hộ:

  • Về lũ: 70% hộ khẳng định lũ ngày càng giảm về lượng nước và phù sa, thời gian lũ về muộn hơn trước; 30% cho rằng không đổi; không có hộ nào thấy lũ tăng.
  • Về mưa: 50% hộ thấy không thay đổi nhiều (đa số ở bờ Bắc); 40% hộ nhận thấy lượng mưa sụt giảm rõ rệt (tập trung ở đồng bào Khmer ấp Tây Hưng làm ruộng trên); 10% nhận thấy mưa thất thường và xuất hiện nhiều mưa trái mùa.

3. Chi phí bơm tưới ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận của nông dân trồng lúa bờ Bắc?

Do khu vực bờ Bắc nằm ngoài đê bao và chưa có trạm bơm điện nhà nước hoàn chỉnh, nông dân phải thuê hợp tác xã hoặc tư nhân bơm nước với chi phí tính theo giá nhiên liệu (dầu) và giá lúa. Tại vụ Đông Xuân 2022, chi phí bơm nước là 7 lít dầu + 100.000 VNĐ/công (tổng chi phí hơn 260.000 VNĐ/công), làm tăng mạnh chi phí sản xuất và giảm thu nhập của nông hộ.

4. Những mô hình chuyển đổi sinh kế nào đã mang lại hiệu quả kinh tế khả quan trong điều kiện khan hiếm nước?

Các mô hình chuyển đổi sang chăn nuôi gia súc cho thấy hiệu quả kinh tế vượt trội:

  • Nuôi bò thịt: Thu lợi nhuận 35–40 triệu VNĐ/con (tận dụng cỏ tự nhiên).
  • Nuôi dê: Thu lợi nhuận khoảng 2,5 triệu VNĐ/con sau khi tự học hỏi kỹ thuật.
  • Nuôi heo: Thu lợi nhuận 2,3 triệu VNĐ/con (cao hơn mô hình trồng bắp ruộng trên chỉ đạt 1 triệu VNĐ/công).

5. Những rào cản chính khiến 80% nông hộ chưa chuyển đổi mô hình canh tác là gì?

Các rào cản chính bao gồm: tập quán canh tác lúa truyền thống lâu đời; phần lớn nông dân đã lớn tuổi ngại thay đổi; thiếu nguồn vốn đầu tư ban đầu; thiếu kỹ thuật chăn nuôi/trồng cây mới; tính chất đất ruộng trũng bờ Bắc khó trồng cây trồng cạn; và tâm lý e ngại rủi ro thị trường khi đầu ra nông sản chưa có liên kết tiêu thụ ổn định.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Trần Thanh Mỹ đã làm rõ thực trạng tác động của biến động tài nguyên nước đến sinh kế nông nghiệp tại xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên, qua đó chỉ ra sự phân hóa sinh thái canh tác sâu sắc giữa hai khu vực bờ kênh Vĩnh Tế. Nghiên cứu khẳng định xu hướng suy giảm nguồn nước mưa và nước lũ đang tạo áp lực lớn lên các nông hộ vùng "ruộng trên", thúc đẩy quá trình chuyển đổi sinh kế tự phát sang chăn nuôi gia súc và cây trồng cạn với hiệu quả kinh tế tích cực. Công trình cung cấp nguồn tư liệu thực địa có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp các đề xuất xác đáng về phát triển thủy lợi vùng cao và hoàn thiện chính sách hỗ trợ kỹ thuật, vốn vay nhằm nâng cao năng lực thích ứng biến đổi khí hậu cho cộng đồng nông thôn vùng biên giới Tây Nam.