ĐẶT VẤN ĐỀ Huyện Tịnh Biên là một trong hai huyện thuộc vùng đồi núi của tỉnh An Giang với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, nền nhiệt cao và đều quanh năm, phù hợp với nhiều loại cây trồng, thuận lợi phát triển nông nghiệp, có cả hai dân tộc Kinh và Khmer sinh sống trên địa bàn, người dân sinh sống chủ yếu là sản xuất lúa và trồng rau màu. Vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số Khmer đa số người dân làm ruộng còn phụ thuộc vào thiên nhiên, lối canh tác còn nặng về tập quán và tính tự phát, chưa biết ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất. Nguồn nước nơi đây được người dân sử dụng để sinh hoạt và sản xuất chủ yếu là nước từ sông ngòi, các kênh mương, nước máy, nước suối (Cổng thông tin huyện Tịnh Biên, 2016). Hussey (2011) nước là một vấn đề ngày càng quan trọng hàng đầu trong quá trình thay đổi chính sách, quản lý và lập kế hoạch toàn cầu.
Đi đôi với sự phát triển và mở rộng của xã hội loài người thì nhu cầu về nước sinh hoạt và sử dụng trong sản xuất nông nghiệp cũng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Và tình hình này sẽ ngày càng diễn ra sâu sắc hơn dưới sự tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) vì vậy việc quản lý khai thác và sử dụng một cách hiệu nguồn nước của người dân có một ý nghĩa hết sức quan trọng cho người dân ở hiện tại và cho thế hệ sau này. Nhưng làm thế nào để có thể quản lý tốt nguồn tài nguyên nước mà vừa sử dụng nước một cách hợp lý và hiệu quả nhất là ở những nơi có địa hình cao và còn khó khăn như địa bàn xã Nhơn Hưng. Và để làm được như thế thì trước hết cần tìm hiểu được tình hình khan hiếm nước tại địa phương và các mô hình canh tác của người dân trong điều kiện khan hiếm nước.
Đây là lý do thực hiện đề tài “Thực trạng canh tác nông nghiệp trong điều kiện khan hiếm nước tại xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên” để góp phần giúp xác định được những mô hình canh tác hiện tại bao gồm mô hình đã chuyển đổi và chưa chuyển đổi. Các yếu tố tác động đến quyết định chuyển đổi của người dân và những thuận lợi, khó khăn mà người dân thường gặp phải để địa phương có hướng chính sách hỗ trợ đúng đắn đáp ứng được nhu cầu của người dân.1 Mục tiêu chung Khảo sát thực trạng thay đổi mô hình canh tác nông nghiệp thích ứng với điều kiện khan hiếm nước ở xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên giai đoạn từ năm 2010-2021 1.2 Mục tiêu cụ thể Tìm hiểu hiện trạng về sự thay đổi/ sự biến động của tài nguyên nước trong canh tác nông nghiệp tại địa phương. Tìm hiểu sự chuyển đổi trong sinh kế nông nghiệp của người dân để thích ứng với điều kiện khan hiếm nước. Thuận lợi và khó khăn của người dân trong quá trình chuyển đổi mô hình sinh kế trong canh tác nông nghiệp để thích ứng với điều kiện khan hiếm nước.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Hiện trạng về nguồn nước được sử dụng với mục đích canh tác nông nghiệp tại địa bàn xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên như thế nào? Tìm hiểu những thay đổi trong mô hình sinh kế của người dân từ năm 2010 đến năm 2021? Những thuận lợi và khó khăn gì mà người dân gặp phải trong quá trình thay đổi mô hình canh tác? 1.4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 1.1 Giới hạn không gian Địa bàn nghiên cứu: xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang 1.2 Giới hạn thời gian Từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 05 năm 2022 1.3 Giới hạn nội dung nghiên cứu Đề tài tập trung khảo sát sự thay đổi các mô hình canh tác nông nghiệp của người dân để thích ứng với điều kiện khan hiếm nước tại xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên, trong giai đoạn 2010-2021.
2 CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 2.1 Vị trí địa lý xã Nhơn Hưng Vùng nghiên cứu xã Nhơn Hưng Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Tịnh Biên (Nguồn: Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên, 2021) 3 Nhơn Hưng là một xã thuộc huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Xã Nhơn Hưng gồm 4 ấp: Đông Hưng, Tây Hưng và Trung Bắc Hưng với tổng diện tích 19,67 km², dân số năm 2019 là 6.095 người, mật độ dân số đạt 264 người/km². Xã có phía Đông giáp Thành phố Châu Đốc, phía Tây giáp xã Nhơn Hưng, phía Nam giáp thị trấn Nhà Bàng và xã Thới Sơn, phía Bắc giáp Campuchia (Phòng thống kê huyện Tịnh Biên, 2019).2 Điều kiện tự nhiên Theo Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên (2021) điều kiện tự nhiên của huyện Tịnh Biên cụ thể như sau: Khí hậu Huyện Tịnh Biên nằm trong vùng có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, có nền nhiệt cao và ổn định, lượng mưa nhiều và phân bổ theo mùa. Chế độ mưa Tổng số ngày mưa nhiều trung bình trong năm khoảng 128 ngày với lượng mưa bình quân 1.478 mm nhưng phân bố không đều, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 với lượng mưa chiếm khoảng 90% so với tổng lượng mưa của năm. Các tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7 – 8 – 9 (lượng mưa chiếm hơn 1/3 tổng lượng mưa cả năm). Mùa mưa thường trùng với mùa nước nổi hàng năm nên khu vực đồng bằng của huyện thường bị ngập lụt. - Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 và kéo dài đến tháng 4 năm sau với lượng mưa chiếm khoảng 10% so với tổng lượng mưa của năm.
Các tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 1 – 2 – 3 với lượng mưa chiếm khoảng 1% (hầu như không có mưa). Đây là đặc điểm điển hình cho tính khô hạn của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lượng bốc hơi và độ ẩm không khí Huyện nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm nên lượng bốc hơi bình quân tương đối lớn khoảng 1. Lượng bốc hơi lớn diễn ra trong mùa khô, tập trung nhiều vào tháng 3, tháng 4.
Trong mùa mưa lượng bốc hơi không cao, lượng bốc hơi ít nhất diễn ra trong tháng 9, bình 4 quân khoảng 63 mm. Mặc dù lượng bốc hơi bình quân nhỏ hơn tổng lượng mưa trong năm nhưng lại tập trung vào những tháng mùa khô nên thường gây ra tình trạng hạn hán. Độ ẩm không khí bình quân hàng năm khá cao, khoảng 83% và thay đổi theo chế độ mùa. Tuy nhiên không có sự chênh lệch lớn giữa các tháng mùa khô và mùa mưa nên khá thuận lợi cho sản xuất.
Các nguồn tài nguyên nước - Nguồn nước mưa: Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm với lượng mưa rất cao, chiếm trên 90% tổng lượng mưa của năm. Đối với một huyện miền núi như Tịnh Biên, nguồn nước mưa có ý nghĩa rất quan trọng, là nguồn nước cung cấp chủ yếu cho sinh hoạt hàng ngày của người dân sinh sống ở vùng cao. Đồng thời mùa mưa cũng là thời điểm canh tác của đất ruộng trên và nương rẫy thuộc vùng đồi núi, các vùng không có nguồn nước tưới và là nguồn cung cấp cho các hồ chứa trên địa bàn toàn huyện. Tuy nhiên nhiều năm gần đây mưa diễn ra thất thường , mưa ít hơn so với những năm trước đã khiến cho việc sản xuất nông nghiệp của người dân canh tác ruộng trên gặp khó khăn, đa phần người dân sinh sống tại ấp Tây Hưng sử dụng chủ yếu là nước mưa, nguồn tài nguyên này rất khó kiểm soát, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết hàng năm.
- Nguồn nước mặt: Tài nguyên nước mặt của huyện được cung cấp từ các kênh cấp I trên địa bàn và các hồ chứa nước trên núi. Chất lượng nguồn nước mặt chưa cao, tuy nhiên có thể phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt (qua xử lý). Vào mùa khô lượng nước ở các tuyến kênh cấp II, cấp III và kênh mương nội đồng xuống thấp (khoảng tháng 3 hàng năm) gây tình trạng thiếu nước, cần quan tâm nạo vét thường xuyên nhằm đảm bảo đủ nước cho sản xuất của người dân khu vực này.Nguồn nước mặt có tại địa phương chủ yếu từ kênh lớn là Kênh Vĩnh Tế và một số kênh nhỏ như: kênh Trà Sư, kênh Nhơn Thới, kênh Cò Ke. Nguồn nước mặt chủ yếu cung cấp nước cho các vùng có địa hình thấp để phục vụ trong sinh hoạt và trong sản xuất nông nghiệp.
Dọc theo chiều dài kênh có 13 cống, cống khi được mở sẽ dẫn nước từ kênh vào ruộng. Cống Hải Đăng, cống gần Chốt Thép có vai trò tương tự… Các cống có vai trò điều tiết nước, khi nước lớn thì ngăn không cho nước từ kênh Vĩnh Tế chảy vào ruộng (Phỏng vấn KIP). 5 - Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm có ý nghĩa rất quan trọng đối với cư dân sinh sống vùng núi. Qua kết quả khảo sát chất lượng nước ngầm tại huyện Tịnh Biên theo Báo cáo quan trắc hiện trạng môi trường tỉnh An Giang năm 2010 cho thấy: Đã xuất hiện một vài vị trí có Coliforms vượt đến 31 lần so với giới hạn cho phép.
Nồng độ NH4+ cũng vượt giới hạn đến 14 lần. Tuy nhiên, ở các thông số còn lại đều nằm trong giới hạn cho phép theo qui chuẩn và có xu hướng giảm so với các năm trước. Về cơ bản, nguồn nước ngầm có chất lượng khá tốt, có thể phục vụ cho đời sống sinh hoạt. Thủy lợi Chế độ thủy văn của huyện Tịnh Biên chịu ảnh hưởng chủ yếu từ chế độ bán nhật triều của sông Hậu.
Nguồn nước mặt được đưa từ sông Hậu vào địa bàn huyện thông qua các tuyến kênh Cấp I chạy ngang địa bàn như kênh Vĩnh Tế, kênh Trà Sư, … và phân phối lại cho các tuyến kênh cấp II, cấp III, kênh mương nội đồng, phục nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân ở các xã thuộc khu vực đồng bằng (Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên, 2021). Hàng năm vào mùa mưa, lượng nước từ trên núi chảy xuống, kết hợp với lượng nước từ thượng nguồn sông Mêkông đổ về gây ngập tràn phần lớn diện tích đồng bằng của huyện từ tháng 8 đến tháng 10, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân (Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên, 2021). Thường xuyên nạo vét các kênh Vĩnh Tế, Nhơn Thới, Thala, kênh hậu Đông - Tây trà sư, 955A với tổng chiều dài 6514m, kinh phí trên 888 triệu, đảm bảo phục vụ tưới tiêu (Ủy ban nhân dân xã Nhơn Hưng, 2020).