Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CĂNG THẲNG CỦA SINH VIÊN NGÀNH KẾ TOÁN 1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan Nghiên cứu về căng thẳng (stress) được bắt đầu từ chiến tranh thế giới thứ nhất, đi vào chiều sâu nghiên cứu ở chiến tranh thế giới thứ 2 và đóng góp vào thành tựu của nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới, tiêu biểu như Giáo sư Hans Selye – được xem là người tiên phong trong nghiên cứu về phản ứng sinh lý của con người đối với căng thẳng vào năm 1936 (Lupien, S. Từ đó cho đến nay, nghiên cứu về căng thẳng đã tiến hành cho nhiều đối tượng khác nhau trên toàn thế giới, trong đó có sinh viên các trường đại học. Sau đây là các công trình tiêu biểu trong nước và ngoài nước.
Các nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu năm 1998 của Fanshawe và Burnett với tiêu đề “School-related stressors in adolescents” tác giả có định hướng rõ ràng hơn về các yếu tố chủ yếu tạo nên căng thẳng của sinh viên trong nghiên cứu của mình vì mục tiêu nghiên cứu của tác giả tương đồng với mục tiêu của hai nhà nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của Fanshawe và Burnett cho thấy phương pháp giảng dạy; lo lắng cho tương lai; thể hiện sự độc lập; khối lượng học tập; môi trường học tập; cảm giác tổng thương; và quan hệ với gia đình là bảy/chín yếu tố gây căng thẳng được các sinh viên lựa chọn. Đồng thời, các thang đo đo lường của các yếu tố này cũng được thể hiện cụ thể trong nghiên cứu. Do vậy, nghiên cứu này rất bổ ích cho sự kế thừa đo lường yếu tố trong nghiên cứu của tác giả (Fanshawe, J.
Năm 2007, nghiên cứu của Byrne và các cộng sự được công bố với chủ đề “Profiles of adolescent stress: The development of the adolescent stress questionnaire (ASQ)”. Các tác giả đã sử dụng kỹ thuật kiểm định độ tin cậy thang đo 2 bước để đánh giá lại các đo lường đối với các thang đo phản ánh căng thẳng của người trưởng thành do ông và các cộng sự xây dựng vào năm 1995 (The Adolescent Stress Questionnaire – ASQ). Kết quả cho thấy kết quả kiểm định 8 Cronbach alpha của 10 yếu tố trong bảng hỏi căng thẳng của người trưởng thành có giá trị từ 0.92 là hoàn toàn tin cậy. Do vậy, nghiên cứu của Byrne và các cộng sự đã giúp tác giả định hình được các yếu tố chính tạo nên căng thẳng trong nghiên cứu của mình cùng với sự kế thừa các thang đo đo lường các biến độc lập.
Tuy nhiên, các thang đo này cần được điều chỉnh phù hợp với văn hóa và đối tượng nghiên cứu (Byrne và các cộng sự cũng khuyến nghị về điều này) (Byrne, D. Một nghiên cứu khác được tiến hành tại Châu Á của Chen và các cộng sự về “Stress among Shanghai university students: The need for social work support” được công bố trong năm 2009. Sử dụng phương pháp định lượng để phân tích dữ liệu khảo sát thu thập từ 342 sinh viên của 6 trường đại học tại Thượng Hải, kết quả cho thấy có 4 yếu tố chính tác động đến căng thẳng của sinh viên bao gồm yếu tố liên quan đến học tập; yếu tố liên quan đến cá nhân; yếu tố liên quan đến các sự kiện không mong muốn của cuộc sống; và yếu tố căng thẳng chung (overall stress). Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy các sinh viên năm 2 và năm 3 cảm thấy căng thẳng hơn rất nhiều so với sinh viên năm 1.
Qua đó, nghiên cứu này lần nữa đã giúp tác giả cũng cố hiểu biết của mình về căng thẳng của sinh viên vì đặc điểm về bậc học đại học và văn hóa khá tương đồng giữa hai quốc gia, Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, tác giả chỉ kế thừa một phần kết quả của nghiên cứu này vì biến phục thuộc và mô hình nghiên cứu của Chen và các cộng sự khác với mô hình của tác giả (Chen, H. Nghiên cứu của Diane de Anda và các cộng sự (2010) về “Stress, Stressor and Copying among High Shool Students” đã tiến hành khảo sát 333 học sinh ở bậc học phổ thông tại thành phố Los Angeles về mức độ thường xuyên đối mặt với 76 yếu tố tạo nên căng thẳng (stressor) và các biện pháp mà họ thường sử dụng cũng như chiến lược áp dụng các biện pháp giảm căng thẳng. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 10 yếu tố cụ thể tạo nên căng thẳng mà các sinh viên này thường tiếp xúc là mong đợi cá nhân về nghề nghiệp; kế hoạch cho cuộc sống tương lai; các bài kiểm tra; điểm số; bài tập về nhà; mong đợi của cá nhân đối với nhà trường; căng thẳng từ gia đình/trách nhiệm; kìm nén cảm xúc; căng thẳng từ gia đình/cuộc sống xã hội; 9 và không có đủ thời gian.
Nghiên cứu này đã giúp tác giả định hình/xác định được các yếu tố tạo nên căng thẳng ở người học, cách thức đo lường các yếu tố gây căng thẳng. Đồng thời, các yếu tố thuộc về môi trường cũng được các tác giả đề nghị không nên bỏ qua trong nghiên cứu về căng thẳng của người học/sinh viên (de Anda, D. Một công bố khác của Hamaideh năm 2011 với chủ đề “Stressors and Reactions to Stressors Among University Students” có cách tiếp cận khá tương đồng với nghiên cứu của Chen và các cộng sự. Tuy nhiên, Hamaideh dựa theo mô hình của Lazarus - The Transactional Model of Stress (1966) và các thang đo được sử dụng dựa theo bảng đo lường căng thẳng cuộc sống của sinh viên - Student-life Stress Inventory (SSI) – để tìm hiểu 5 yếu tố tạo nên căng thẳng gồm (Seft- imposed) (Pressures) (Conflicts) (Changes) (Frustrations) và cách thức đối phó căng thẳng của sinh viên dựa trên bốn yếu tố (Cognitive) (Emotional) (Physiological) (Behavioural).
Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng đề cập đến vấn đề ngành học được xem như một yếu tố căng thẳng của sinh viên. Điều này đã gợi mở và giúp tác giả quan tâm đến yếu tố này bên cạnh các yếu tố khác trong luận văn của mình (Hamaideh, S. Năm 2012, hai nhà nghiên cứu May và Casazza đã công bố nghiên cứu về căng thẳng của sinh viên dưới góc cạnh nhận thức về căng thẳng của sinh viên với tiêu đề “Academic major as a perceived stress indicator: Extending stress management intervention”. Kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ ràng về căng thẳng giữa sinh viên theo học chuyên ngành “hard” và “soft”.
Đồng thời, các yếu tố như hoạt động ngoài giờ học chính; số giờ học tập; quan hệ với bạn bè; quan hệ với gia đình; và các quan hệ khác ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên về căng thẳng và từ đó dẫn đến các hành vi ứng phó khác nhau đối với căng thẳng. Nghiên cứu này lần nữa đã giúp tác giả định hướng và xác định được cách thức đo lường biến phụ thuộc dựa trên các thang đo khảo sát theo “the Perceived Stress Scale” của Cohen và các cộng sự năm 1983 với 14 thang đo (May, R. Một nghiên cứu khác năm 2017 với đối tượng nghiên cứu là các sinh viên theo học chuyên ngành kế toán tại Malaysia của Bakar và các cộng sự với tiêu đề 10 “Reasons to High Stress Level among Undergraduate Accounting Students: A Case Study” cũng được công bố. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, Bakar và các cộng sự cho thấy khối lượng học tập, deadline và các project là nguyên nhân chính tạo nên căng thẳng của sinh viên.
Thậm chí kết quả còn cho thấy các sinh viên không thích ngành mà họ đang theo học. Mặc dù nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phương pháp định tính, tuy nhiên kết quả của Bakar và các cộng sự giúp tác giả hiểu biết hơn về kỹ thuật thảo luận nhóm với đối tượng nghiên cứu tương đồng với đối tượng nghiên cứu của tác giả, chính là các sinh viên ngành kế toán (Bakar, N. Các nghiên cứu trong nước Bên cạnh các công trình nghiên cứu ngoài nước, vấn đề căng thẳng của sinh viên học sinh cũng nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước những năm gần đây: Nghiên cứu của Phạm Thanh Bình (2005) về biểu hiện căng thẳng trong học tập môn toán của học sinh Trường THPT Yên Mỗ tỉnh Ninh Bình được công bố với mục tiêu xác định nguyên nhân và thực nghiệm một số biện pháp để giảm căng thẳng cho học sinh. Kết quả cho thấy có sự khác biệt về giới tính và học lực khi đối với mức độ căng thẳng và mức độ căng thẳng có xu hướng tăng dần theo các khối lớp (Phạm Thanh Bình, 2005).
Một nghiên cứu khác của Đỗ Thị Lệ Hằng năm 2015 cũng cho thấy được nhiều yếu tố gây nên căng thẳng của học sinh trung học phổ thông thuộc 5 trường tại Tp. Hà Nội như: các vấn đề liên quan đến học tập, các vấn đề liên quan đến bạn bè, các vấn đề liên quan đến gia đình, các vấn đề liên quan đến bản thân, vấn đề nội quy của nhà trường, các vấn đề khác (Đỗ Thị Lệ Hằng, 2015). Cũng trong năm 2015, nghiên cứu của Trần Thành Nam với 235 học sinh trung học phổ thông trên địa bàn Tp. Hà Nội cũng được công bố về vấn đề lo âu, các dạng lo âu và mối liên hệ giữa các dạng lo âu ở học sinh với lòng tự trọng, động cơ và thành tích học tập của học sinh.
Kết quả cho thấy những lo lắng thường gặp nhất ở học sinh là mối quan hệ với giáo viên; kiểm tra và lo lắng không thỏa mãn được mong đợi của người khác. Đồng thời, kết quả cũng cho thấy khi học sinh lo âu 11 càng nhiều thì lòng tự trọng, động cơ và thành tích học tập càng thấp (Trần Thành Nam, 2015). Bên cạnh những nghiên cứu về căng thẳng của học sinh, các nghiên cứu về căng thẳng của sinh viên cũng được tập trung làm rõ. Năm 2006, Lại Thế Luyện thực hiện đề tài “Biểu hiện stress của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu được thực hiện với hơn 500 sinh viên của 7 khoa gồm Công nghệ thông tin, Công nghệ May – Thời trang, Cơ khí Động lực, Cơ khí Chế tạo máy, Xây dựng, Điện và Điện tử. Kết quả cho thấy có 6 yếu tố chủ yếu tạo nên căng thẳng của sinh viên bao gồm: Bản thân; Hoạt động học tập; Thi cử – điểm số – kết quả học tập; Gia đình; Quan hệ xã hội – tình cảm; và Khác từ xã hội – cuộc sống – định hướng tương lai (Lại Thế Luyện, 2006).