Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE UNG PHO VỚI CANG THANG TRONG HOAT ĐỘNG HỌC TAP CUA HỌC VIÊN KHOI TRƯỜNG CANH SAT 1. Tổng quan nghiên cứu van dé 1. Tổng quan một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài Một trong những van dé chính khi nghiên cứu về căng thang của con người là cách mọi người ứng phó hoặc quản lý các yếu tố gây căng thắng mà họ phải đối mặt trong cuộc sống hàng ngày. Đây là một chủ đề được các nhà nghiên cứu về căng thăng quan tâm từ rất sớm.
Đặc biệt là ứng phó với căng thắng nảy sinh trong quá trình học tập là một vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm và nghiên cứu. Quan điểm nghiên cứu về ứng phó theo cấu trúc 2 thành phan Hans Selye (1956), đã đưa ra các quan điểm hoặc “Fight” hoặc “Flight” như các ứng phó với các yếu tô gây căng thăng. Nói một cách đơn giản, “Flight” là một hình thức né tránh hoặc thoát khỏi sự ứng phó (chạy trốn khỏi tác nhân gây căng thăng), là một biến thé của sự ứng phó tập trung vào cảm xúc, trong khi “Fight” đòi hỏi phải đối mặt với tác nhân gây căng thăng và cố gang loại bỏ hoặc giảm bớt nó, mà ngày nay chúng ta đề cập đến như ứng phó tập trung vào vấn đề (dẫn theo O’Driscoll, 2013). Một cách phân loại phô biến khác là chia ứng phó thành ứng phó chủ động và ứng phó né tránh của Roth & Cohen (1986).
Trong đó, ứng phó chủ động là những nỗ lực làm thay đổi nguồn gây stress hoặc thay đổi cách cá nhân nghĩ về nó. Ngược lại, ứng phó né tránh là những cách thức giúp con người không phải đối mặt trực tiếp với van dé, làm giảm stress hoặc lo âu trong thời gian ngắn. Nghiên cứu của Lo (2002) tập trung vào tìm hiểu sự khác biệt giữa sinh viên ba năm: năm thứ nhất, sinh viên năm thứ hai và sinh viên năm thứ ba của một trường điều dưỡng trong việc lựa chọn cách ứng phó. Kết quả cho thấy ba nhóm đối tượng này có sự khác biệt trong mức độ sử dụng cách ứng phó né tránh hay chủ động.
Lazarus và Folkman (1984) đề xuất quan điểm phân loại ứng phó theo cau trúc 2 thành tố là ứng phó tập trung vào cảm xúc và ứng phó tập trung vào vấn dé. Ứng phó tập trung vào cảm xúc là việc điều chỉnh lại cảm xúc của bản thân khi đối mặt với tình huống căng thăng mà cá nhân cho là không thé thay đổi hay kiểm soát. Vi dụ, chia sẻ cảm xúc với người khác, hay dành thời gian nghỉ ngơi và thư giãn. Trong khi đó, ứng phó tập trung vào vấn đề là những nỗ lực thay đổi nhận thức, cảm xúc và hành vi của cá nhân nham giải quyết van dé đã gây ra căng thắng.
Cách ứng phó này được sử dụng khi cá nhân đánh giá là tình huống gây căng thăng có thể thay đổi được. Chang hạn, lập kế hoạch giải quyết hay tìm kiếm sự trợ giúp. Theo Folkman và Lazarus (1985), học sinh ứng phó với các sự kiện tiêu cực theo ba giai đoạn: đánh giá chính về tình huống hoặc nhận ra mối đe dọa, thâm định thứ cấp hoặc đưa ra các phản ứng tiềm năng có thê được thực hiện và ứng phó hoặc thực hiện các phản ứng ứng phó. Được lồng trong quá trình này là hai cách ứng phó: ứng phó tập trung vào vấn đề và ứng phó tập trung vào cảm xúc.
Struthers và cộng sự (2000), đã đưa ra thang đo ứng phó của sinh viên bao gồm tám tiểu thang đo dùng dé đo lường hai cách ứng phó: ứng phó tập trung vào van dé liên quan đến suy nghĩ, hành động và cách ứng phó này nhằm thay đổi nguOn gốc của các sự kiện căng thăng và ứng phó tập trung vào cảm xúc liên quan đến suy nghĩ, hành động và cách ứng phó hướng đến việc quản lý những đau khổ cảm xúc liên quan đến các sự kiện căng thăng. Như vậy, có thể thấy răng Struthers cũng có quan điểm về ứng phó theo hai chiều hướng có điểm tương đồng với Folkman và Lazarus. Nói một cách khác, các tác giả này đều cho rằng ứng phó với căng thăng được chia theo hai hướng chính, đó là: Ứng phó tập trung vào giải quyết van dé và ứng phó tập trung vào cảm xúc. Tuy nhiên, Struthers và cộng sự sau khi nghiên cứu đã đưa ra nhận định ứng phó tập trung vào vấn đề liên quan đến các cách ứng phó hướng tới thay đổi hoặc giảm bớt căng thăng.
Ung phó tập trung vào vấn đề có mối quan hệ với động lực học tập nếu sinh viên có động lực học tập cao thì càng có xu hướng ứng phó tập trung vào vấn đề. Ngược lại, do ứng phó tập trung vào cảm xúc liên quan đến các cách ứng phó hướng đến việc quản lý đau khổ cảm xúc, nó không liên quan đến động lực học tập. Qua đây, có thé nhận thấy các tác giả nghiên cứu ứng phó theo cấu trúc 2 thành phần chủ yếu phân chia cách ứng phó theo 2 hướng chính. Nếu như Selye, Roth & Cohen và Lo đồng tình với quan điểm chia ứng phó thành ứng phó né tránh hay ứng phó chủ động: thi Lazarus, Folkman, Struthers và cộng sự lại cho rằng ứng phó được chia thành Ủng phó tập trung vào van dé và ứng pho tập trung vào cam xúc.
Nghiên cứu trong thực tiễn nhiều tác giả nhận định các cách phân loại trên về ứng phó đều không hiệu quả vì một số cách ứng phó có thé thuộc vào cả hai kiểu ứng phó (Abraham và cộng sự, 2016; Skinner và cộng sự, 2003). Chang han viéc ca nhân tìm cách tạm thời tách ra khỏi một van dé có thé là dé lấy lại bình tĩnh về mat cảm xúc nhằm giải quyết van dé đó tốt hơn. Cu thẻ, tiểu thang tìm kiếm chỗ dựa xã hội trong bảng hỏi về các cách ứng phó (Ways of Coping Questionnaire) của Folkman & Lazarus (1985) được coi là vừa thuộc ứng phó tập trung vào van đề, vừa thuộc ứng phó tập trung vào cảm xúc. Dé khắc phục tinh trạng này, các nhà nghiên cứu thường xây dựng và sử dụng những thang đo trong đó các cách ứng phó được phân loại thành những cách ứng phó cụ thể hơn.
Quan điểm nghiên cứu về ứng phó theo cầu trúc 3 thành phan Connor-Smith và cộng sự (2000) cho rằng ứng phó có thể chia thành mười cách ứng phó bao gồm giải quyết vấn đề, điều hòa cảm xúc, bộc lộ cảm xúc, chấp nhận, sao nhãng, thay đôi nhận thức, suy nghĩ tích cực, chối bỏ, né tránh, và mong ước. Trong đó, các cách ứng phó giải quyết vấn đề, điều hòa cảm xúc, bộc lộ cảm xúc thuộc nhóm #ng phó gắn kết kiểm soát sơ cấp, được cá nhân sử dụng khi vấn đề gây căng thắng vẫn có thê thay đổi được. Các cách ứng phó chấp nhận, sao nhãng, thay đổi nhận thức và suy nghĩ tích cực thuộc nhóm tng phó gắn kết kiểm soát thứ cấp, được cá nhân sử dụng khi vấn đề chưa thê thay đồi, hoặc sẽ không thé thay đổi được. Cuối cùng, các cách ứng phó chối bỏ, né tránh và mong ước thuộc nhóm tng phó tách khỏi, được sử dụng khi cá nhân không dám đối diện với tình huống khó khăn.
Ưu điểm của cách phân loại này đó là đã phối hợp được cả hai cách phân loại chính và hạn chế được sự chồng lấn giữa các cách ứng phó. Thêm vào đó, cách phân loại này cũng phản ánh được quan điểm tình huống mà theo đó cách cá nhân ứng phó với một sự kiện hay tình huống sẽ liên tục thay đối, tùy thuộc vào thẩm định của cá nhân về mối quan hệ giữa bản thân và môi trường, có thê bắt đầu từ ứng phó gan kết kiểm soát sơ cấp, sau đó là ứng phó gan kết kiểm soát thứ cấp và cuối cùng là ứng phó tách khỏi. Carver và cộng sự (1989) đã đề xuất một bộ công cụ đo lường mới về các chiến lược ứng phó là COPE. Theo đó ứng phó được chia thành ba phần tương ứng được đo lường bởi các tiểu thang đo là: ứng phó tập trung vào van dé, ứng pho tập trung vào cảm xúc và ứng pho không tích cực.
Sullivan (2010) đã mô tả các đặc điểm tâm lý của Thang đo chiến lược ứng phó trong học tập (ACSS), được thiết kế dé đánh giá các cách ứng phó ứng ứng phó của sinh viên đại học trong bối cảnh của tác nhân cụ thể gây căng thắng trong học tập. Trong nghiên cứu của Sullivan, Hsieh, & Guerra (2007) đã sử dụng một bảng gồm 76 hạng mục khảo sát trên 124 sinh viên. Dựa theo kết quả của nghiên cứu trước đó và các phân tích nhân t6 sau đó trong phiên bản sửa đổi của ACSS (Sullivan và cộng sự, 2008), thang đo đã được chỉnh sửa phù hợp hơn với đối tượng nghiên cứu này, chỉ ra mô hình 3 nhân tố là phù hợp nhất với đữ liệu, bao gồm 56 mục thé hiện 3 cách ứng phó là Giải quyết vấn đề, Tránh né và Hỗ trợ xã hội. So với việc Connor-Smith chia ứng phó theo 3 nhóm ứng phó gan kết kiêm soát sơ cấp, ứng phó gan kết kiểm soát thứ cấp, ứng phó tách khỏi — bao gồm nhiều cách ứng phó nhỏ được phân vào 3 nhóm chính, tuy đã hạn chế được sự chồng lấn giữa các cách ứng phó những lại khiến kết quả sau nghiên cứu khó bao quát được hết các cách ứng phó; hay Carver và cộng sự lại chia ứng phó thành ứng phó tập trung vào vấn đề, ứng phó tập trung vào cảm xúc, ứng phó không tích cực - cách phân chia này tuy đã đầy đủ hơn khi chỉ phân chia ứng phó thành 2 nhóm tập trung vào van dé, tập trung vào cảm xúc; hay ứng phó tập trung và né tránh nhưng lại chưa bao hàm được nội dung như cách phân chia theo 3 nhóm của Sullivan là: Giải quyết vấn đề, Tránh né và Hỗ trợ xã hội.
Bởi, trong ứng phó Giải quyết vấn đề, không những bao hàm việc tập trung Giải quyết van đề, mà còn có cả việc nỗ lực về mặt lý trí, cảm xúc dé giải quyết van dé đó; ứng phó Tránh né, bên cạnh việc tránh không suy nghĩ về việc giải quyết van đề (về mặt cảm xúc) cũng bao gồm cả việc cá nhân không thực hiện hành động nào dé hướng tới giải quyết van dé; ứng phó tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội thì lại bao hàm toàn bộ những sự trợ giúp về mặt tinh thần từ bên ngoài, như từ người thân, bạn bè, giáo viên,.