mở đầu đặt tâm lí học vào quĩ đạo của tâm lí học khách quan và tạo điều kiện cho phạm trù thứ hai hoạt động xuất hiện. Tâm lí học hoạt động ra đời thực sự đưa tâm lí học trở thành một nền khoa học khách quan, là cơ sở khoa học đáng tin cậy của một nền giáo dục tiến bộ khoa học. Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động.N Leonchiev thì hoạt động được hiểu là tổ hợp các hành động của con người tác động vào khách thể nhằm mục đích thảo mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể. Nói cách khác hoạt động là mối quan hệ tác động giữa chủ thể và khách thể bao gồm 2 quá trình: Đối tượng hóa (tức là quá trình chủ thể bộc lộ năng lực tâm lí của mình ra bên ngoài để tạo nên sản phẩm).
Chủ thể hóa ( là quá trình chủ thể lĩnh hội những đặc điểm, thuộc tính của đối tượng đưa nó vào trong kinh nghiệm bản thân – phát triển tâm lí) Như vậy, hoạt động của con người bao gồm các quá trình con người tác động vào khách thể (gọi là quá trình bên ngoài) và quá trình diễn ra ở trong đầu (tinh thần, trí tuệ) gọi là quá trình bên trong. Như vậy, trong hoạt động bao gồm cả hành vi (bên ngoài) và tâm lí (bên trong), cả công việc chân tay lẫn công việc trí óc. Từ việc phân tích khái niệm trên ta thấy hoạt động là phương thức tồn tại của con người, và cũng là nơi tâm lí được hình thành và phát triển. Do đó, tâm lí, ý thức, nhân cách của con người do chính con người bằng hoạt động của bản thân mình mà tạo ra thông qua 2 quá trình.
Hoạt động có cấu trúc như sau: Chủ thể khách thể Hoạt động động cơ Hành động Mục đích Thao tác phương tiện Sản phẩm Vậy hoạt động khác hành động như thế nào? - hành động là thành phần của hoạt động, có nghĩa là để tiến hành hoạt động người ta phải thực hiện một hệ thống hành động. Nhưng để tiến hành hành động thì phải thực hiện một hệ thống thao tác theo một trật tự nhất định. - Động cơ của hoạt động là cái vì nó mà người ta hoạt động. đồng thời cũng là mục đích cuối cùng cần phải đạt được.
- Mục đích là biểu tượng về kết quả - cái mà người ta cần đạt được, cụ thể hóa sau quá trình hoạt động. Mục đích của hoạt động có thể chia thành mục đích bộ phận. Mỗi hành động là để đạt được mục đích bộ phận. - Phương tiện là điều kiện bên trong và bên ngoài để tiến hành hành động, thao tác.v * Đặc điểm của hoạt động - Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng: Đối tượng của hoạt động là cái mà con người hướng hoạt động tới nhằm biến đổi, chiếm lĩnh nó.
Đối tượng của hoạt động nằm trong thế giới khách quan, nó có thể xuất hiện trước hoạt động hoặc có thể xuất hiện sau hoạt động mà hoạt động của con người phải đi tìm kiếm. Ví dụ: đối tượng của hoạt động dạy là nhân cách của người học. Đối tượng của hoạt động học là tri thức. - Hoạt động bao giờ cũng được thực hiện bởi chủ thể là con người (một hoặc nhiều người).
Nhưng con người chỉ được coi là chủ thể của hoạt động khi họ có ý thức – chủ động, tích cực tác động vào đối tượng để biến đổi hoặc chiếm lĩnh nó. - Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích: Mục đích là biểu tượng về kết quả sẽ đạt được sau hoạt động. Mục đích trở thành động lực thôi thúc con người tiến hành hoạt động. Nó có tác dụng định hướng cho con người hoạt động và điều chỉnh hoạt động của mình.
Mục đích sẽ được cụ thể hóa dần dần trong hoạt động của con người. vì thế, có thể xem mục đích như là cái mà hoạt động cần chiếm lĩnh. Ví dụ: mục đích trong dạy học là tri thức, là kĩ năng, là thái độ mà người học cần chiếm lĩnh được trong từng bài học, từng môn học. Trong bài dạy tính diện tích hình tam giác.
Mục đích là người học nắm được công thức tính diện tích tam giác, có kĩ năng vận dụng vào giải quyết các bài tập - Hoạt động của con người được vận hành theo nguyên tắc gián tiếp: trong quá trình con người tiến hành hoạt động họ luôn sử dụng các công cụ ( công cụ lao động, ngôn ngữ) để tác động vào đối tượng. Ví dụ: trong hoạt động dạy học: người giáo viên sử dụng ngôn ngữ (nói và viết), các phương tiện dạy học để tổ chức các hoạt động giúp người học chiếm lĩnh được tri thức bài học. Công cụ mà con người sử dụng trong hoạt động có thể công cụ vật chất hoạt công cụ tinh thần – tâm lý, ý thức. Nhờ tính chất sử dụng công cụ này mà làm cho tâm lý của con người khác xa về chất so với con vật.
Nói một cách cụ thể là hoạt động của con người khác xa về chất so với hành vi bản năng của con vật. Vì vậy, Vư-gốt-xki đã nói nhờ tính gián tiếp trong hoạt động của con người mà xác định được chức năng tâm lí cao cấp của con người.3 Phương pháp tiếp cận hoạt động và vận dụng vào dạy học. - Vận dụng lí thuyết hoạt động vào việc nghiên cứu, lí giải sự hình thành và phát triển tâm lí người được gọi là phương pháp tiếp cận hoạt động. Phương pháp tiếp cận hoạt động dựa trên những nguyên tắc sau: + Tâm lý, ý thức con người được nảy sinh, hình thành và phát triển bởi hoạt động.
Hoạt động được xem như là qui luật chung của sự hình thành tâm lí người. + Hoạt động vừa tạo ra tâm lí, vừa sử dụng tâm lí là điều kiện phương tiện của hoạt động. Vì thế khi nói đến hoạt động thì bao gồm những điều kiện bên ngoài (công cụ, khách thể) và những điều kiện bên trong (tâm lí, ý thức) Những điều kiện bên ngoài và bên trong phải thống nhất, kết hợp với nhau một cách chặt chẽ thì hoạt động mới có kết quả. + Tất cả các quá trình, các thuộc tính tâm lí, kể cả ý thức cả con người đều phải xem xét nó trong hoạt động và giao tiếp.
- Vận dụng lí thuyết hoạt động vào dạy học và học tập. + Trước hết phải quan niệm hoạt động dạy và hoạt động học là hoạt động của thầy và trò. / Hoạt động dạy thực hiện cơ chế di sản xã hội: có nghĩa là người dạy tổ chức cho người học hoạt động với các sự vật, hiện tượng để lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Để tổ chức hoạt động học tốt, người dạy phải biết được quá trình tìm kiếm tri thức của nhân loại như thế nào mà tổ chức cho người học làm theo con đường tìm kiếm của nhân loại.
/ Hoạt động học là hoạt động của người học nhằm thay đổi bản thân. Vì thế để thực hiện hoạt động học, người học sinh phải thực hiện các hành động giống như các nhà khoa học đã tìm kiếm kiến thức đó. / Hai hoạt động này phải thống nhất với nhau. Vì thế Menchinxkia viết: Hai hoạt động thầy và trò là hai mặt của hoạt động.
Đa-vư-dov cũng cho rằng: các hoạt động dạy và học là hoạt động cùng nhau của thầy và trò. Như vậy vận dụng phương pháp tiếp cận hoạt động là phải làm rõ thầy và trò là chủ thể của hoạt động dạy và hoạt động học là làm sao thầy và trò đều thực hiện một mục đích phát triển nhân cách cho học sinh.4 Thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn 2.1 Quan điểm của thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn. - Xem sự học như là sự thực hiện một hệ thống hành động nhất định. Sự thực hiện một hệ thống hành động như thế dẫn đến việc học sinh nắm vững những tri thức mới, kĩ năng mới.Ia Ganperin viết: “Bất cứ hoạt động nào được gọi là sự học, nếu như kết của nó là những tri thức mới, kĩ năng mới, hoạt những tri thức và kĩ năng trước có bản chát mới được hình thành thành ở người thực hiện những hoạt động này” Như vạy hoạt động học là kểu hoạt động được cấu tạo từ hệ thống hành động, và được thống nhất với nhau bằng động cơ để đạt được mục đích của hoạt động học.
Vì thế để hiểu bản chất của sự học phải nghiên cứu và phân tích hoạt động học mà học sinh thực hiện những hoạt động này để giải quyết những nhiệm vụ học tập. Nhưng hoạt động học được cấu tạo bởi hành động học. Hành động là đơn vị phân tích của hoạt động. vì thế nội dung chủ yếu của lí thuyết này xem xét cấu trúc, chức năng, nội dung của từng hành động.2 Thành phần cấu trúc và chức năng của hành động Bất cứ hành động nào của con người cũng có một mục đích xác định.
Mục đích này được xác định trên một cơ sở một động cơ nào đó hướng lên một đối tượng nhất định. Đối tượng đó có thể là đối tượng vạt chát hay tinh thần. Hành động được chủ thể thực hiện (theo hình thức bên trong hay bên ngoài) chứa đựng tất cả những tri thức hay một số trí thức cần thiết và những điều kiện của hành động. Bất cứ hành động nào cũng bao gồm các thao tác được chủ thể thực hiện theo một trật tự nhất định, phù hợp với qui luật thực hiện nó.
Sự thực hiện liên tục các thao tác tạo nên quá trình thực hiện hành động. Tóm lại, trong lí thuyết này xem hành động được cấu tạo từ các thành phần sau: Động cơ, mục đích, điều kiện và thao tác của hành động. Trong lí thuyết này: Hình ảnh của hành động, và hình ảnh của môi trường hành động phải thống nhất, tạo thành các yếu tố cấu trúc của hành động. Trên cơ sở các yếu tố này hành động được điều khiển và các yếu tố này trở thành cơ sở định hướng của hành động.
- Hình ảnh của môi trường: Đó là những điều kiện khách quan cần thiết để thực hiện hành động. Những điều kiện này tồn tại một cách độc lập không phụ thuộc vào chủ thể hành động. Ví dụ: ví dụ khi tính chiều cao của Kim tự tháp con người đã lợi dụng chiều cao của bóng nắng từ đó tính theo công thức tam giác đồng dạng để suy ra chiều cao của kim tự tháp. Các công thức tính tam giác đồng dạng tồn tại một cách khách quan, chiều cao của bóng nắng cũng tồn tại một cách khách quan.