Tổng quan luận án

Đột quỵ não là vấn đề y tế cộng đồng trên phạm vi toàn cầu, đứng hàng thứ hai trong các nguyên nhân gây tử vong sau bệnh lý mạch vành, với ước tính khoảng 17 triệu ca mắc mới mỗi năm trên thế giới. Tại Việt Nam, các phân tích hệ thống từ dữ liệu Gánh nặng Bệnh tật Toàn cầu (GBD) và dữ liệu RES-Q đã xác nhận đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật, vượt qua bệnh tim mạch, đồng thời đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có tỷ lệ mắc và tử vong do đột quỵ cao nhất khu vực Đông Nam Á. Trong các thể bệnh, đột quỵ nhồi máu não chiếm khoảng 2/3 tổng số trường hợp. Tổn thương hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ do xơ vữa mạch lớn đóng vai trò là một trong những nguyên nhân chủ đạo và có nguy cơ tái phát đột quỵ rất cao trong những ngày đầu sau biến cố.

Các hướng dẫn chuyên môn quốc tế từ Hội Tim mạch Châu Âu (ESC 2017) và Hội Tim mạch cùng Hội Đột quỵ Hoa Kỳ (AHA/ASA 2021) đều khuyến cáo sàng lọc thường quy bệnh lý hẹp động mạch cảnh ngoài sọ cho mọi bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) nhằm phục vụ dự phòng thứ phát. Về mặt điều trị can thiệp tái thông, phẫu thuật bóc nội mạc động mạch cảnh (Carotid Endarterectomy - CEA) là biện pháp kinh điển nhưng bộc lộ nhiều hạn chế ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật cao, tổn thương thần kinh sọ hoặc có bệnh đồng mắc tim mạch - hô hấp nặng. Phương pháp can thiệp đặt stent động mạch cảnh (Carotid Artery Stenting - CAS) được phát triển như một kỹ thuật xâm lấn tối thiểu thay thế. Mặc dù các khuyến cáo quốc tế đồng thuận tái thông bằng CEA trong vòng 14 ngày sau biến cố thiếu máu não, chỉ định thời điểm tiến hành can thiệp đặt stent ĐM cảnh giai đoạn sớm (trong vòng 14 ngày hoặc dưới 90 ngày) vẫn tồn tại nhiều tranh luận do lo ngại biến cố chu phẫu như đột quỵ tái phát, tử vong hoặc chuyển dạng xuất huyết não do tái tưới máu.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây về bệnh lý mạch cảnh phần lớn có cỡ mẫu hạn chế, thiết kế mô tả cắt ngang trên các mẫu bệnh nhân hỗn hợp (bao gồm cả nhóm có và không có triệu chứng), và chưa có công trình quy mô lớn nào công bố tỷ lệ hiện mắc hẹp động mạch cảnh ở nhóm bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp hoặc TIA. Đồng thời, dữ liệu lâm sàng về tính an toàn và hiệu quả của can thiệp CAS trong giai đoạn sớm (trong vòng 14 đến 90 ngày đầu) trên quần thể bệnh nhân Việt Nam vẫn là một khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết bằng các bằng chứng thực nghiệm cụ thể.

Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Bùi Nguyên Tùng, chuyên ngành Nội tim mạch (mã số: 9720107), thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Mai Duy Tôn và GS.TS. Phạm Mạnh Hùng, được triển khai nhằm giải quyết hai mục tiêu cụ thể:

  1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tỉ lệ hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ của các bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp và thiếu máu não thoáng qua.
  2. Đánh giá kết quả can thiệp sớm đặt stent động mạch cảnh ở nhóm bệnh nhân hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm hai nhóm bệnh nhân được tuyển chọn tại Bệnh viện Bạch Mai:

  • Nhóm phục vụ mục tiêu 1: Gồm các bệnh nhân được chẩn đoán nhồi máu não cấp hoặc TIA, điều trị nội trú tại Trung tâm Đột quỵ và Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai trong khoảng thời gian từ tháng 06/2021 đến tháng 06/2022.
  • Nhóm phục vụ mục tiêu 2: Gồm các bệnh nhân hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ có triệu chứng được can thiệp đặt stent trong vòng 90 ngày sau biến cố nhồi máu não cấp hoặc TIA tại Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2024.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan y văn quốc tế cho thấy tỷ lệ hẹp động mạch cảnh ngoài sọ có sự dao động phụ thuộc vào quần thể dịch tễ học và tiêu chí chọn mẫu. Nghiên cứu cộng đồng của Fairhead và cộng sự (2005) trên 853 bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não hoặc TIA ghi nhận tỷ lệ hẹp động mạch cảnh trong đoạn ngoài sọ ≥ 50% là 15,8%, trong đó hẹp 50–69% chiếm 4,9%, hẹp 70–99% chiếm 6,3%, hẹp gần tắc chiếm 0,8% và tắc hoàn toàn chiếm 3,8%. Tác giả cũng chỉ ra nguy cơ đột quỵ tái phát ở bệnh nhân hẹp > 50% đang chờ mổ CEA lên tới 21% trong 2 tuần đầu và 32% trong 12 tuần. Nghiên cứu của den Brok (2020) tại Hà Lan trên 883 bệnh nhân nội trú ghi nhận tỷ lệ hẹp ≥ 50% là 12,5%; phân tích đa biến xác định các yếu tố nguy cơ độc lập gồm tuổi cao (OR = 1,4 cho mỗi 10 năm tuổi; KTC 95%: 1,16–1,63), giới tính nam (OR = 2,8; KTC 95%: 1,83–4,19), thiếu máu cục bộ võng mạc (OR = 2,5; KTC 95%: 1,32–4,76) và đang hút thuốc lá (OR = 1,8; KTC 95%: 1,09–2,79). Tại khu vực Châu Á, nghiên cứu của Mettananda (2021) tại Sri Lanka ghi nhận tỷ lệ hẹp ≥ 50% là 4,0%; Dharmasaroja (2008) tại Thái Lan ghi nhận 9,2%; Tan (2005) tại Đài Loan báo cáo 8,0% (với tỷ lệ tổn thương chung là 11%); và Cheng (2019) tại Anh ghi nhận 7,9%.

Tác giả / Nghiên cứu Năm Cỡ mẫu (n) Tuổi trung bình / trung vị Tỷ lệ hẹp ĐM cảnh ngoài sọ ≥ 50% Yếu tố nguy cơ liên quan có ý nghĩa
Mettananda (Sri Lanka) 2021 550 58,9 4,0% Phân tích đa biến: Tuổi cao, ĐTĐ
Dharmasaroja (Thái Lan) 2008 184 61,0 9,2% Không tìm thấy YTNC có ý nghĩa
Tan (Đài Loan) 2005 276 63,7 8,0% Phân tích đơn biến: Tuổi cao
Cheng (Anh) 2019 1252 71,4 7,9% Đơn biến: Tuổi, giới nam, THA, RLMM, ĐTĐ, bệnh mạch vành, thuốc lá
den Brok (Hà Lan) 2020 883 70,0 12,5% Đa biến: Tuổi cao, giới nam, thiếu máu võng mạc, đang hút thuốc lá

Về phương diện can thiệp tái thông, các thử nghiệm lâm sàng lớn như CAVATAS và SAPPHIRE đã chứng minh tính khả thi của CAS ở nhóm nguy cơ phẫu thuật cao. Tuy nhiên, các nghiên cứu ngẫu nhiên đối đầu trực tiếp như SPACE (n = 599, tỷ lệ biến cố đột quỵ/tử vong 30 ngày là 6,84%), EVA-3S (n = 261, tỷ lệ biến cố là 9,6%) và ICSS (n = 853, tỷ lệ biến cố chu phẫu 7,4%) ban đầu ghi nhận tỷ lệ biến chứng thần kinh chu phẫu ở nhóm CAS có phần cao hơn CEA, dù theo dõi dài hạn 5 đến 10 năm cho thấy kết cục tử vong hoặc tàn tật nặng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Thử nghiệm CREST (2010) trên bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật trung bình ghi nhận tỷ lệ biến cố gộp chu phẫu 30 ngày không khác biệt đáng kể giữa CAS và CEA (5,2% đối với CAS), trong đó nhóm CAS có tỷ lệ đột quỵ nhẹ chu phẫu cao hơn (5,5% so với 3,2%), nhưng nhóm CEA lại có tỷ lệ nhồi máu cơ tim cao hơn (2,3% so với 1,0%).

Về thời điểm can thiệp, phân tích tổng hợp từ thử nghiệm NASCET và ECST cho thấy việc tái thông bằng CEA trong 14 ngày đầu ở bệnh nhân hẹp 50–69% làm giảm nguy cơ tương đối (ARR) đột quỵ sau 5 năm là 14,8% (NNT = 7), và ở mức hẹp 70–99% giảm ARR là 23,0% (NNT = 4). Hiệu quả này giảm đi rõ rệt nếu trì hoãn can thiệp sau 2 đến 4 tuần và gần như mất hẳn sau 12 tuần. Đối với CAS, nghiên cứu tổng hợp của Tsantilas (2018) trên dữ liệu tại Đức chỉ ra rằng can thiệp trong 48 giờ đầu có tỷ lệ tử vong và đột quỵ cao nhất (6,0%), sau đó giảm xuống 4,4% ở nhóm can thiệp từ ngày 3–7, và đạt mức thấp nhất ở nhóm can thiệp từ ngày 8–14 (2,4%, p < 0,007). Nghiên cứu phân tích gộp của De Rango (2016) trên bệnh nhân can thiệp trong vòng 7 ngày ghi nhận tỷ lệ đột quỵ là 4,8%, tương đương với CEA. Castro-Afonso (2015) can thiệp trong vòng 14 ngày ở các bệnh nhân không có nhồi máu diện rộng (< 1/3 bán cầu) ghi nhận tỷ lệ đột quỵ hoặc tử vong là 7,8% so với 2,6% ở nhóm can thiệp muộn, không làm tăng nguy cơ xuất huyết não. Báo cáo đồng thuận chuyên gia quốc tế năm 2024 đã khuyến nghị rút ngắn định nghĩa hẹp động mạch cảnh có triệu chứng từ mốc 180 ngày kinh điển xuống còn 90 ngày.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ trước đây ghi nhận tổn thương động mạch cảnh với các tỷ lệ khác nhau do tiêu chuẩn chọn mẫu: Nguyễn Quang Ân (n = 124, 34,7% tổn thương hệ mạch cảnh chung và cảnh trong), Phùng Đức Lâm (n = 200, 15,1% chỉ hẹp ngoài sọ và 47,2% phối hợp trong và ngoài sọ), Lương Quang Triết (n = 30) và Nguyễn Hạnh Ngân (n = 100). Về can thiệp CAS, Hoàng Văn Kỳ (2014, n = 23), Trần Nguyễn Phương Hải (2017, n = 122 đối đầu 61 ca CAS với 61 ca điều trị nội khoa) và Lê Tùng Lâm (2024, n = 47) đã cung cấp các số liệu bước đầu. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu thực hiện trên nhóm bệnh nhân hỗn hợp, thời điểm can thiệp chưa được phân định rõ ràng trong giai đoạn sớm sau đột quỵ cấp. Luận án của nghiên cứu sinh Bùi Nguyên Tùng định vị là công trình chuyên biệt khảo sát tỷ lệ hẹp động mạch cảnh ngoài sọ trên quần thể đột quỵ thiếu máu não cấp/TIA và đánh giá kết quả can thiệp CAS sớm trong mốc 90 ngày (đặc biệt phân tích nhóm can thiệp ≤ 14 ngày) tại cơ sở tim mạch và đột quỵ tuyến cuối.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án áp dụng các khung định nghĩa và phân loại chuẩn mực quốc tế:

  • Phân loại nguyên nhân nhồi máu não theo TOAST (Trial of ORG 10172 in Acute Stroke Treatment) gồm 5 phân nhóm: tổn thương xơ vữa động mạch lớn, thuyên tắc từ tim, tổn thương mạch nhỏ (nhồi máu ổ khuyết), nguyên nhân hiếm gặp khác, và nguyên nhân chưa xác định.
  • Phân loại đột quỵ thiếu máu não theo các mốc thời gian: tối cấp (0–6 giờ), cấp (6–24 giờ), bán cấp (24 giờ đến 2 tuần), bán cấp muộn (2 tuần đến 6 tuần), và mạn tính (sau 6 tuần).
  • Đánh giá mức độ tàn tật thần kinh bằng thang điểm Rankin sửa đổi (mRS, từ 0 đến 6 điểm), trong đó mRS 0–2 điểm định nghĩa mức độ tàn tật nhẹ/độc lập chức năng, mRS ≥ 3 là tàn tật mức độ nặng.
  • Hệ thống giải phẫu động mạch cảnh trong theo phân đoạn của Bouthillier gồm 7 đoạn: C1 (đoạn cổ - cervical, dài 10–15 cm, không chia nhánh bên, là đoạn ngoài sọ), C2 (đoạn đá ngoài), C3 (đoạn đá trong), C4 (đoạn xoang hang), C5 (đoạn trên yên/clinoid), C6 (đoạn giao thoa thị giác/mắt), và C7 (đoạn tận).
  • Cơ chế sinh bệnh học gây đột quỵ do hẹp động mạch cảnh gồm hai cơ chế cốt lõi:
    1. Giảm áp lực tưới máu não: Theo nghiên cứu của Jongen và cộng sự, mức độ hẹp tăng dần làm suy giảm tuần tiến lưu lượng tưới máu não cùng bên (hẹp 50–69%: 1,09 ± 0,06 ml/100g/phút; 70–79%: 0,93 ± 0,06; 80–89%: 0,90 ± 0,04; 90–99%: 0,83 ± 0,04 ml/100g/phút; p = 0,005) và kéo dài thời gian vận chuyển máu (từ -0,02 ± 0,33 lên 1,47 ± 0,20 giây; p < 0,001).
    2. Thuyên tắc do mảng xơ vữa không ổn định: Do nứt vỡ lớp vỏ xơ, loét bề mặt, xuất huyết trong mảng xơ vữa hoặc lõi hoại tử giàu lipid giải phóng các mảnh vụn vi thuyên tắc vào tuần hoàn nội sọ.

Về phương pháp đo độ hẹp trên phim chụp mạch số hóa xóa nền (DSA), tác giả phân tích ba phương pháp chính: NASCET (tính tỷ lệ đường kính tại chỗ hẹp nhất so với đường kính bình thường đoạn xa sau chỗ hẹp), ECST (so sánh với đường kính ước tính ban đầu của bóng xoang cảnh), và phương pháp CC (so sánh với đường kính động mạch cảnh chung đoạn gần). Quy đổi tương đương lâm sàng: hẹp 50% theo NASCET tương đương 65% theo ECST/CC; hẹp 70% theo NASCET tương ứng 82% theo ECST/CC.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai:

  • Thiết kế nghiên cứu: Kết hợp phương pháp mô tả cắt ngang (phục vụ Mục tiêu 1) và nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc thuần tập can thiệp lâm sàng không đối chứng (phục vụ Mục tiêu 2).
  • Tiêu chuẩn lựa chọn:
    • Cho Mục tiêu 1: Bệnh nhân nhồi máu não cấp hoặc TIA được thực hiện ít nhất một thăm dò hình ảnh không xâm lấn khảo sát mạch cảnh ngoài sọ (siêu âm Doppler, CTA hoặc MRA).
    • Cho Mục tiêu 2: Bệnh nhân hẹp động mạch cảnh trong đoạn ngoài sọ cùng bên triệu chứng mức độ 50–99% theo NASCET trên hình ảnh DSA; điểm chức năng thần kinh mRS từ 0–2 điểm; được thực hiện thủ thuật CAS trong vòng 90 ngày tính từ biến cố thiếu máu não gần nhất (index-event); bệnh nhân ký cam kết đồng ý tham gia.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Tổn thương nhồi máu diện rộng (> 1/3 diện cấp máu bán cầu), biến chứng xuất huyết não cấp, suy thận nặng, hoặc chống chỉ định dùng thuốc cản quang/kháng kết tập tiểu cầu.
  • Phương tiện kỹ thuật và can thiệp: Sử dụng hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền GE Innova; đường vào mạch máu qua động mạch đùi hoặc động mạch quay; sử dụng bắt buộc thiết bị bảo vệ não chống thuyên tắc dạng lưới lọc đoạn xa (EPD); đặt stent tự nở chuyên dụng đường kính và chiều dài phù hợp cấu trúc mạch; liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép (DAPT gồm Aspirin kết hợp Clopidogrel) nạp trước thủ thuật và duy trì phối hợp thuốc hạ lipid máu statin cường độ cao.
  • Thu thập và xử lý số liệu: Theo dõi bệnh nhân tại các thời điểm quanh thủ thuật, 30 ngày, và theo dõi dọc đến 12 tháng. Phân tích thống kê sử dụng phân tích đơn biến, hồi quy logistic đa biến tìm yếu tố liên quan đến hẹp mạch cảnh; mô hình hồi quy Cox đánh giá yếu tố nguy cơ độc lập đối với biến cố tim mạch và thần kinh chính trong 30 ngày; phân tích hàm sống còn tích lũy theo phương pháp Kaplan-Meier; so sánh điểm mRS và NIHSS tại thời điểm ban đầu và sau 12 tháng. Nghiên cứu tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc đạo đức y sinh, được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các kiến thức kinh điển và hiện đại liên quan đến đột quỵ thiếu máu não và bệnh lý hẹp động mạch cảnh ngoài sọ. Tác giả trình bày chi tiết định nghĩa nhồi máu não và TIA, phân loại TOAST, và vai trò của thang điểm Rankin sửa đổi (mRS) trong phân tầng tiên lượng tàn tật, đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của mRS tại thời điểm 3 tháng như thước đo kết cục thần kinh chuẩn tắc. Phần giải phẫu mô tả chi tiết đường đi của hệ cảnh, định vị đoạn cổ C1 theo Bouthillier là vị trí tập trung mảng vữa xơ ngoài sọ. Về cơ chế bệnh sinh, chương phân tích sâu hiện tượng suy giảm lưu lượng tưới máu và vi thuyên tắc từ mảng xơ vữa dễ tổn thương (chiếm khoảng 25% mảng xơ vữa không triệu chứng và 37,5% ở nhóm đột quỵ căn nguyên không rõ).

Chương 1 cũng cung cấp cơ sở dữ liệu về các công cụ chẩn đoán:

  • Siêu âm Doppler: Khảo sát vận tốc đỉnh tâm thu (PSV), vận tốc cuối tâm trương (EDV) và tỷ số PSV động mạch cảnh trong / cảnh chung. Đối với hẹp 50–69%, PSV từ 125–130 cm/giây, tỷ số 2,0–4,0, EDV 40–100 cm/giây; đối với hẹp 70–99%, PSV > 230 cm/giây, tỷ số > 4,0, EDV > 100 cm/giây. Độ nhạy và độ đặc hiệu chẩn đoán hẹp 50–99% lần lượt là 0,97 và 0,70; đối với hẹp 70–99% lần lượt là 0,85 và 0,98.
  • Chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA): Độ nhạy 0,93 và độ đặc hiệu 0,99 đối với hẹp khít ĐM cảnh khi so sánh với DSA.
  • Chụp cộng hưởng từ mạch máu (MRA): Độ nhạy dao động từ 91–99%, độ đặc hiệu từ 88–99%.
  • Chụp mạch số hóa xóa nền (DSA): Tiêu chuẩn vàng để lượng hóa tổn thương theo tiêu chuẩn NASCET, ECST và CC.

Chương này cũng tổng kết các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên quốc tế lớn (CAVATAS, SAPPHIRE, EVA-3S, SPACE, ICSS, CREST) và các nghiên cứu của Han (2020), Song (2015), Jonsson (2015), Lin (2009), Rantner (2017). Tác giả phân tích dữ liệu biến cố chu phẫu 30 ngày (đột quỵ, tử vong, nhồi máu cơ tim), đồng thời điểm lại các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Quang Ân, Phùng Đức Lâm, Lương Quang Triết, Nguyễn Hạnh Ngân, Hoàng Văn Kỳ, Trần Nguyễn Phương Hải, Lê Tùng Lâm, Đỗ Kim Quế, Lâm Văn Nút, Nguyễn Hữu Ước và Phạm Quốc Đạt, qua đó làm nổi bật sự cần thiết phải khảo sát can thiệp đặt stent sớm tại Việt Nam.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận của luận án. Nghiên cứu thực hiện thu tuyển hai nhóm đối tượng riêng biệt tại Bệnh viện Bạch Mai:

  • Nhóm 1 (Mục tiêu 1): Thu tuyển từ tháng 06/2021 đến tháng 06/2022 tại Trung tâm Đột quỵ và Viện Tim mạch nhằm xác định tỷ lệ hẹp động mạch cảnh ngoài sọ trên bệnh nhân NMN cấp hoặc TIA có thực hiện ít nhất một thăm dò hình ảnh mạch cảnh không xâm lấn.
  • Nhóm 2 (Mục tiêu 2): Thu tuyển từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2024 tại Viện Tim mạch gồm các bệnh nhân hẹp ĐM cảnh ngoài sọ 50–99% theo NASCET trên phim DSA, điểm mRS 0–2, được can thiệp đặt stent trong vòng 90 ngày sau biến cố thiếu máu não gần nhất.

Quy trình kỹ thuật can thiệp được chuẩn hóa:

  • Chuẩn bị người bệnh: Đánh giá thần kinh bằng thang điểm NIHSS và mRS; dùng thuốc kháng kết tập tiểu cầu kép (Aspirin 100mg kết hợp Clopidogrel 75mg nạp liều tải hoặc dùng trước can thiệp); đánh giá chức năng thận và các yếu tố nguy cơ tim mạch qua thang điểm CAR (Carotid Artery Stenting Risk score).
  • Kỹ thuật can thiệp: Đặt đường vào mạch máu (động mạch đùi hoặc động mạch quay); chụp chọn lọc động mạch cảnh xác định độ hẹp theo NASCET và giải phẫu quai động mạch chủ (Type I, II, III hoặc Bovine); đưa ống thông dẫn đường (guiding catheter/sheath) lên vị trí cảnh chung; sử dụng bắt buộc dụng cụ bảo vệ não chống thuyên tắc (EPD) đoạn xa; thực hiện nong bóng trước nếu hẹp quá khít; thả stent tự bung đúng vị trí tổn thương bao phủ qua chỗ hẹp; nong bóng sau khi bung stent nếu nở chưa tối ưu; thu hồi EPD và chụp kiểm tra lưu thông mạch máu não nội sọ.
  • Theo dõi và tiêu chí đánh giá: Đánh giá biến cố chính trong vòng 30 ngày chu phẫu (đột quỵ thiếu máu cục bộ, chuyển dạng xuất huyết não, nhồi máu cơ tim, tử vong); theo dõi dọc tại các mốc thời gian đến 12 tháng về điểm số mRS, NIHSS, biến cố mạch máu tái phát, và các biến chứng tại vị trí chọc mạch.
  • Phân tích thống kê: Phân tích đơn biến và đa biến xác định các biến số liên quan đến hẹp mạch cảnh; sử dụng phân tích hồi quy Cox đánh giá nguy cơ biến cố 30 ngày; vẽ đường cong Kaplan-Meier so sánh tỷ lệ biến cố tích lũy giữa các mốc can thiệp sớm; kiểm định sai số và đảm bảo tính bảo mật, đạo đức nghiên cứu theo phê duyệt của Hội đồng Đạo đức Bệnh viện Bạch Mai.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Nội dung kết quả nghiên cứu trong luận án được cấu trúc theo hệ thống các bảng và biểu đồ số liệu thực nghiệm:

  • Tỷ lệ hẹp động mạch cảnh ngoài sọ và các yếu tố liên quan: Báo cáo tỷ lệ hẹp động mạch cảnh có ý nghĩa (phân loại theo mức độ hẹp 50–69% và 70–99% theo tiêu chuẩn NASCET) trong quần thể bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp và TIA. Tỷ lệ hẹp được phân tầng chi tiết theo nhóm tuổi và giới tính nam/nữ (minh họa qua Biểu đồ 3.1 và Biểu đồ 3.2). Kết quả phân tích hồi quy đơn biến và đa biến chỉ ra các yếu tố nguy cơ phối hợp độc lập đối với tình trạng hẹp động mạch cảnh có ý nghĩa (tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tiền sử hút thuốc lá, tuổi cao và giới tính nam).
  • Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh tổn thương của nhóm can thiệp CAS: Thống kê các chỉ số dịch tễ học, nhân trắc học, tiền sử bệnh đồng mắc tim mạch - chuyển hóa, phân bố điểm NIHSS và mRS thời điểm nhập viện. Về cận lâm sàng, mô tả giải phẫu tổn thương trên phim chụp mạch qua da, loại hình quai động mạch chủ, tỷ lệ sử dụng đường vào mạch máu (động mạch đùi chiếm đa số), tỷ lệ sử dụng EPD thành công, tỷ lệ nong bóng trước và sau đặt stent.
  • Kết quả thủ thuật và biến cố chu phẫu trong 30 ngày: Phân tích chi tiết tỷ lệ thành công về mặt kỹ thuật tái thông; tỷ lệ xuất hiện các biến cố chính trong 30 ngày (gồm đột quỵ thiếu máu não cùng bên hoặc đối bên, xuất huyết não, nhồi máu cơ tim và tử vong do mọi nguyên nhân). Luận án phân tích thời điểm xuất hiện biến cố trong 30 ngày đầu, so sánh kết cục giữa phân nhóm can thiệp rất sớm (≤ 14 ngày) và nhóm can thiệp muộn hơn (15–90 ngày) qua đường cong sống còn tích lũy Kaplan-Meier. Mô hình hồi quy Cox đa biến lượng hóa các yếu tố nguy cơ độc lập ảnh hưởng đến biến cố chính 30 ngày sau thủ thuật.
  • Kết quả theo dõi dọc 12 tháng: Báo cáo tỷ lệ tích lũy biến cố chính sau 12 tháng qua biểu đồ Kaplan-Meier; sự biến đổi điểm mRS và NIHSS qua các mốc theo dõi cho thấy sự hồi phục chức năng thần kinh có ý nghĩa; bản đồ nhiệt (heat-map) theo dõi tính tuân thủ điều trị thuốc kháng kết tập tiểu cầu và statin; so sánh tần suất xuất hiện biến cố thiếu máu não trong khoảng thời gian 90 ngày trước can thiệp và 90 ngày sau can thiệp ghi nhận sự suy giảm rõ rệt số lượng biến cố tái phát.

Chương 4: Bàn luận

Chương Bàn luận tập trung biện giải các phát hiện thực nghiệm thu được trong mối tương quan với y văn quốc tế và trong nước:

  • Về tỷ lệ hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ: Tác giả so sánh tỷ lệ mắc ghi nhận tại Viện Tim mạch và Trung tâm Đột quỵ Bệnh viện Bạch Mai với các nghiên cứu tại Châu Á (như Mettananda tại Sri Lanka, Dharmasaroja tại Thái Lan, Tan tại Đài Loan) và các nghiên cứu tại Châu Âu (den Brok, Fairhead, Cheng). Bàn luận sâu về đặc thù dịch tễ học của bệnh nhân đột quỵ Việt Nam, sự khác biệt giữa tổn thương xơ vữa mạch lớn ngoài sọ và bệnh lý mạch nhỏ nội sọ. Biện giải vai trò của các yếu tố nguy cơ như tuổi cao, giới nam, tăng huyết áp và hút thuốc lá trong việc thúc đẩy tiến triển mảng vữa xơ cảnh.
  • Về kết quả can thiệp đặt stent sớm: Phân tích tính khả thi và độ an toàn của việc thực hiện CAS trong vòng 90 ngày, đặc biệt là nhóm can thiệp trong 14 ngày đầu sau biến cố thiếu máu não cấp. Tác giả đối chiếu tỷ lệ biến cố chu phẫu 30 ngày của nghiên cứu với các thử nghiệm quốc tế lớn (CREST, ICSS, SPACE, EVA-3S, SAPPHIRE) và các nghiên cứu chuyên sâu về thời điểm can thiệp như Tsantilas (Đức), Wach, Castro-Afonso, Han và Song. Luận án khẳng định nếu lựa chọn bệnh nhân chặt chẽ (đột quỵ nhẹ mRS 0–2, không có tổn thương nhồi máu diện rộng trên chẩn đoán hình ảnh) kết hợp với việc bắt buộc sử dụng dụng cụ bảo vệ não EPD và phác đồ kháng kết tập tiểu cầu kép chuẩn hóa, can thiệp CAS trong 14 ngày đầu không làm gia tăng nguy cơ chuyển dạng xuất huyết hay biến cố đột quỵ nặng/tử vong chu phẫu.
  • Đánh giá kết quả theo dõi 12 tháng: Phân tích sự cải thiện thang điểm mRS, mức độ độc lập chức năng của bệnh nhân và vai trò của việc tái thông sớm trong việc ngăn ngừa tái phát đột quỵ trong 90 ngày sau can thiệp so với giai đoạn trước can thiệp. Đồng thời, tác giả thẳng thắn chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu và đúc kết những đóng góp mới của đề tài đối với thực hành lâm sàng.

Kết quả và những đóng góp mới

Các kết quả và đóng góp mới của luận án được khái quát trên cả phương diện lý luận khoa học và thực tiễn lâm sàng:

Về mặt lý luận khoa học:

  • Cung cấp dữ liệu thực chứng quy mô lớn tại một trung tâm đột quỵ và tim mạch tuyến cuối về tỷ lệ hiện mắc hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp và thiếu máu não thoáng qua tại Việt Nam, phân định rõ theo các mức độ hẹp 50–69% và 70–99% theo tiêu chuẩn NASCET.
  • Xác định và lượng hóa mối liên quan độc lập giữa các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống (tuổi cao, giới tính nam, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá) với sự xuất hiện của tổn thương hẹp động mạch cảnh ngoài sọ có ý nghĩa huyết động.
  • Củng cố cơ sở dữ liệu y học thực chứng về tính an toàn của can thiệp đặt stent động mạch cảnh đoạn ngoài sọ trong giai đoạn sớm (bao gồm cả mốc ≤ 14 ngày và kéo dài đến 90 ngày sau biến cố thiếu máu não) trên quần thể bệnh nhân Châu Á có đột quỵ nhẹ (mRS 0–2), góp phần làm sáng tỏ những tranh luận quốc tế liên quan đến thời điểm can thiệp nội mạch.

Về mặt thực tiễn lâm sàng:

  • Chứng minh tính an toàn và hiệu quả của quy trình can thiệp đặt stent động mạch cảnh kết hợp bắt buộc thiết bị bảo vệ chống thuyên tắc đoạn xa (EPD) và phác đồ kháng tiểu cầu kép tối ưu, ghi nhận tỷ lệ biến cố chu phẫu 30 ngày thấp và sự cải thiện bền vững điểm số chức năng thần kinh (mRS, NIHSS) qua 12 tháng theo dõi.
  • Minh chứng hiệu quả dự phòng đột quỵ thứ phát rõ rệt thông qua việc làm giảm có ý nghĩa số lượng và tỷ lệ biến cố thần kinh trong 90 ngày sau can thiệp so với 90 ngày trước thủ thuật.
  • Đề xuất quy trình sàng lọc không xâm lấn thường quy bằng siêu âm Doppler/CTA cho mọi bệnh nhân nhồi máu não cấp/TIA, và xây dựng lộ trình chỉ định can thiệp CAS sớm an toàn tại các trung tâm tim mạch can thiệp và đột quỵ có đủ trang thiết bị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu thuần tập can thiệp lâm sàng đơn trung tâm thực hiện tại Bệnh viện Bạch Mai, chưa tiến hành thử nghiệm ngẫu nhiên đối đầu trực tiếp (RCT) giữa CAS và CEA hoặc giữa CAS và điều trị nội khoa đơn thuần do các rào cản về mặt đạo đức và điều kiện thực hành lâm sàng tại cơ sở.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn tập trung vào nhóm bệnh nhân đột quỵ mức độ nhẹ (mRS 0–2) và kích thước ổ nhồi máu nhỏ (< 1/3 diện cấp máu bán cầu não), do đó các kết luận về tính an toàn của can thiệp CAS sớm chưa thể ngoại suy đại diện cho toàn bộ nhóm bệnh nhân đột quỵ nặng hoặc nhồi máu não diện rộng.
  • Thời gian theo dõi dọc kết cục lâm sàng trong khuôn khổ luận án là 12 tháng, chưa đánh giá được tỷ lệ tái hẹp trong stent và các biến cố tim mạch tích lũy trong trung hạn và dài hạn (3 đến 5 năm hoặc 10 năm).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm trên quy mô toàn quốc nhằm khẳng định tính đại diện dịch tễ học và kết quả can thiệp trên nhiều vùng miền khác nhau.
  • Tiến hành các nghiên cứu ngẫu nhiên đối chứng hoặc theo dõi đoàn hệ lớn so sánh hiệu quả lâu dài của can thiệp CAS sớm phối hợp điều trị nội khoa tích cực với điều trị nội khoa tối ưu đơn thuần.
  • Kéo dài thời gian theo dõi thuần tập người bệnh đến 3–5 năm nhằm đánh giá tỷ lệ tái hẹp trong stent, độ bền cơ học của stent và tỷ lệ sống còn tích lũy dài hạn.
  • Khảo sát mở rộng tính an toàn của kỹ thuật can thiệp tái thông trong cửa sổ tối cấp và siêu sớm (dưới 48–72 giờ) ở những phân nhóm bệnh nhân chọn lọc có hình ảnh học mảng xơ vữa nguy cơ rất cao.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại các giá trị tham khảo chuyên môn cho nhiều đối tượng thực hành y khoa:

  • Đối với bác sĩ tim mạch can thiệp, bác sĩ đột quỵ và thần kinh học: Cung cấp bằng chứng thực hành về chỉ định thời điểm can thiệp đặt stent ĐM cảnh ngoài sọ an toàn, quy trình phối hợp dụng cụ bảo vệ não EPD, kỹ thuật xử trí tổn thương xơ vữa phức tạp và phác đồ sử dụng thuốc kháng kết tập tiểu cầu chu phẫu.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và giảng viên y khoa: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa dịch tễ học mô tả cắt ngang và nghiên cứu theo dõi dọc thuần tập can thiệp; phương pháp đo đạc độ hẹp mạch cảnh theo NASCET, ECST; và cách thức xử lý dữ liệu sống còn bằng mô hình Kaplan-Meier cùng hồi quy đa biến Cox.
  • Đối với các nhà quản lý y tế và lãnh đạo bệnh viện: Là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phối hợp liên chuyên khoa giữa Đột quỵ và Tim mạch can thiệp, hoàn thiện hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tái thông mạch máu não sớm, nhằm giảm thiểu tỷ lệ tàn tật và tử vong do đột quỵ tái phát.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo phân loại giải phẫu của Bouthillier, động mạch cảnh trong được chia thành các đoạn nào và đoạn nào là vị trí tổn thương ngoài sọ được nghiên cứu trong luận án?
Theo hệ thống phân loại của Bouthillier, động mạch cảnh trong được chia làm 7 đoạn giải phẫu từ dưới lên trên gồm: C1 (đoạn cổ - cervical), C2 (đoạn đá ngoài - petrous), C3 (đoạn đá trong - lacerum), C4 (đoạn xoang hang - cavernous), C5 (đoạn trên yên - clinoid), C6 (đoạn giao thoa thị giác/mắt - ophthalmic), và C7 (đoạn tận - communicating). Trong đó, đoạn C1 (đoạn cổ, dài khoảng 10–15 cm, không phân nhánh bên) chính là đoạn ngoài sọ, nơi thường xuất hiện các mảng xơ vữa tập trung tại chỗ chia đôi hoặc lỗ vào động mạch cảnh trong và là đối tượng can thiệp của luận án.

2. Tiêu chuẩn đánh giá mức độ hẹp động mạch cảnh trên siêu âm Doppler và quy đổi tương đương giữa hai thang đo NASCET và ECST như thế nào?
Trên siêu âm Doppler, hẹp mức độ 50–69% được xác định khi vận tốc đỉnh tâm thu (PSV) từ 125–130 cm/s, tỷ số PSV động mạch cảnh trong / cảnh chung từ 2,0–4,0 và vận tốc cuối tâm trương (EDV) từ 40–100 cm/s; hẹp 70–99% khi PSV > 230 cm/s, tỷ số PSV > 4,0 và EDV > 100 cm/s. Về quy đổi tương đương hình ảnh chụp mạch: do phương pháp NASCET so sánh lòng mạch hẹp với đoạn mạch lành sau hẹp, còn phương pháp ECST so sánh với bóng phình xoang cảnh ban đầu ước tính, nên mức hẹp 50% theo NASCET tương đương với 65% theo ECST và CC; mức hẹp 70% theo NASCET tương đương với 82% theo ECST và CC.

3. Cơ chế bệnh sinh nào giải thích mối liên quan giữa hẹp động mạch cảnh ngoài sọ và đột quỵ thiếu máu não cục bộ?
Hai cơ chế bệnh sinh chính được xác định gồm: (1) Cơ chế suy giảm áp lực tưới máu não: mảng xơ vữa gây hẹp khít làm giảm lưu lượng dòng máu lên não cùng bên (giảm từ 1,09 ml/100g/phút ở mức hẹp 50–69% xuống 0,83 ml/100g/phút ở mức hẹp 90–99%, p = 0,005) và kéo dài thời gian vận chuyển máu (tăng từ -0,02 giây lên 1,47 giây, p < 0,001); và (2) Cơ chế thuyên tắc do mảng xơ vữa không ổn định: các mảng xơ vữa có lõi hoại tử lớn giàu lipid, nứt vỡ lớp vỏ xơ hoặc loét bề mặt sẽ kích hoạt kết tập tiểu cầu, hình thành huyết khối và phát tán các mảnh vi thuyên tắc vào hệ mạch máu nội sọ cùng bên.

4. Thử nghiệm CREST và ICSS đã công bố các kết quả gì khi so sánh can thiệp đặt stent (CAS) và phẫu thuật bóc nội mạc (CEA)?
Thử nghiệm CREST ghi nhận tỷ lệ biến cố gộp chu phẫu 30 ngày (đột quỵ, tử vong, nhồi máu cơ tim) giữa CAS và CEA là tương đương (5,2% ở nhóm có triệu chứng), trong đó CAS có tỷ lệ đột quỵ nhẹ chu phẫu cao hơn (5,5% so với 3,2%), nhưng CEA lại có tỷ lệ nhồi máu cơ tim cao hơn (2,3% so với 1,0%); theo dõi 4 năm và 10 năm không thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê về tiêu chí chính gộp giữa hai phương pháp. Thử nghiệm ICSS ghi nhận tỷ lệ biến cố 30 ngày ở nhóm CAS là 7,4% (chịu ảnh hưởng từ số ít thủ thuật viên ban đầu chưa đủ kinh nghiệm), nhưng sau thời gian theo dõi trung bình 4,2 năm và nguy cơ tích lũy 5 năm, tỷ lệ đột quỵ nặng hoặc tử vong giữa hai nhóm hoàn toàn tương đương (6,4% ở nhóm CAS so với 6,5% ở nhóm CEA).

5. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân can thiệp đặt stent động mạch cảnh giai đoạn sớm trong Mục tiêu 2 của luận án gồm những điều kiện gì?
Các bệnh nhân được lựa chọn vào nhóm can thiệp Mục tiêu 2 phải thỏa mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn: (1) Hẹp động mạch cảnh trong đoạn ngoài sọ cùng bên triệu chứng mức độ 50–99% xác định theo tiêu chuẩn NASCET trên hình ảnh chụp mạch qua da DSA; (2) Có tổn thương thần kinh chức năng mức độ nhẹ, tương ứng điểm Rankin sửa đổi mRS từ 0 đến 2 điểm; (3) Thời điểm thực hiện thủ thuật can thiệp đặt stent nằm trong vòng 90 ngày tính từ biến cố đột quỵ thiếu máu não (nhồi máu não cấp hoặc TIA) gần nhất (index-event); và (4) Bệnh nhân hoặc người đại diện hợp pháp đồng ý tham gia nghiên cứu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của Bùi Nguyên Tùng đã giải quyết một vấn đề lâm sàng quan trọng thuộc chuyên ngành Nội tim mạch thông qua việc khảo sát dịch tễ học và đánh giá hiệu quả can thiệp tái thông nội mạch tại Bệnh viện Bạch Mai. Công trình đã xác định được tỷ lệ hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ ở bệnh nhân nhồi máu não cấp và thiếu máu não thoáng qua, đồng thời chỉ ra các yếu tố nguy cơ tim mạch độc lập liên quan đến mức độ tổn thương mạch máu. Kết quả theo dõi dọc 12 tháng khẳng định can thiệp đặt stent động mạch cảnh giai đoạn sớm (trong vòng 14 đến 90 ngày) kết hợp sử dụng thiết bị bảo vệ não và liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép là phương pháp điều trị an toàn, có tỷ lệ biến cố chu phẫu thấp và giúp dự phòng hiệu quả đột quỵ thứ phát. Đây là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho các bác sĩ tim mạch can thiệp, đột quỵ và các nhà nghiên cứu lâm sàng tại Việt Nam.