Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ VÀ CÂN BẰNG LỢI ÍCH TRONG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ 1. KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ Sáng chế, một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, là một khái niệm đã tồn tại từ lâu. Năm 1474, nước Cộng hòa Venice đã ban hành văn bản thường được coi như đạo luật đầu tiên đối với việc bảo hộ sáng chế trên thế giới. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên trên thế giới quy định một loại độc quyền của một cá nhân mà độc quyền này lại hạn chế lợi ích của công chúng.
Vào thế kỷ 16, dưới triều đại Tudor, nước Anh đã có hệ thống bằng độc quyền sáng chế, theo đó Đạo luật về đặc quyền năm 1642 là luật thành văn đầu tiên quy định việc cấp đặc quyền đối với sáng chế trong một thời hạn nhất định. Nửa sau thế kỷ 18 là thời hoàng kim của thương mại và công nghiệp tại nhiều quốc gia trên thế giới và cũng là thời kỳ của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, đổi mới khoa học và cách mạng chính trị. Trong thời kỳ này, một số quốc gia đã thiết lập hệ thống bằng độc quyền sáng chế đầu tiên của họ. Ví dụ, luật về bằng độc quyền sáng chế đầu tiên của Pháp quy định về bảo hộ quyền của nhà sáng chế đã được ban hành năm 1791.
Ở Hoa Kỳ, Hiến pháp năm 1787 đã có quy định về bằng độc quyền sáng chế. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, pháp luật về bảo hộ sáng chế trên thế giới đã có những thay đổi nhất định. Tuy nhiên, những nguyên tắc cơ bản nhất của hệ thống bảo hộ sáng chế dường như vẫn ổn định từ khi hệ thống này được thiết lập. Theo đó, độc quyền sáng chế là độc quyền được cấp cho nhà sáng chế đối với một sản phẩm hoặc quy trình nhất định.
Bằng độc quyền sáng chế dành cho nhà sáng chế sự bảo hộ trong một thời hạn nhất định. Theo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chuẩn mực hiện hành trên thế giới thì thời hạn này là 20 năm tính từ ngày nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế. Đổi lại, nhà sáng chế phải bộc lộ đầy đủ sáng chế đó. Chủ sở hữu sáng chế có quyền quyết định ai sẽ là người được hoặc không được sử dụng sáng chế đã được cấp bằng của mình.
Chủ sở hữu sáng chế cũng có thể chuyển nhượng quyền sở hữu đối với sáng chế của mình cho người khác. Khi kết thúc thời hạn bảo hộ đối với một sáng chế cụ thể nào đó, bất kỳ người nào cũng có thể sử dụng sáng chế đó. Nguồn gốc lịch sử của luật sáng chế gợi ra một số thuyết giải thích cho việc bảo hộ sáng chế [5]. Những thuyết đó bao gồm: - Thuyết phần thưởng, theo đó, các nhà sáng chế cần được thưởng cho việc tạo ra các sáng chế hữu ích và Nhà nước phải có hệ thống luật pháp để bảo đảm hiệu lực và hiệu quả của phần thưởng này; - Thuyết khuyến khích, theo đó, một cơ chế trong đó nhà sáng chế được khen thưởng sẽ tạo ra sự khích lệ cho việc tạo ra các sáng chế mới và nghiên cứu và phát triển; - Thuyết hợp đồng hoặc bộc lộ, theo đó, đổi lại việc được bảo hộ, các nhà sáng chế sẽ được khuyến khích bộc lộ sáng chế của họ để các sáng chế đó sẽ được sung công sau thời gian được bảo hộ độc quyền; - Thuyết luật tự nhiên, theo đó, các cá nhân có quyền sở hữu đối với ý tưởng (đã trở thành giải pháp) của họ.
Gần đây, do ảnh hưởng của các cuộc đàm phán vượt ra ngoài khuôn khổ của hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của Tổ chức Thương mại Thế giới, thuyết báo hiệu đã được đưa ra, theo đó, chế độ bảo hộ sáng chế báo hiệu một môi trường đầu tư có thể chấp nhận được, đặc biệt là đối với đầu tư nước ngoài. Pháp luật quốc tế và quốc gia về sáng chế đều quy định để được cấp bằng độc quyền sáng chế, đơn yêu cầu cấp bằng phải được nộp cho cơ quan 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sở hữu trí tuệ quốc gia hoặc khu vực. Hầu hết các nước quy định nguyên tắc nộp đơn đầu tiên được áp dụng, theo đó đối với cùng một sáng chế, người nào nộp đơn đầu tiên sẽ được cấp bằng độc quyền nếu đối tượng liên quan đáp ứng điều kiện bảo hộ và đáp ứng các thủ tục liên quan. Một số ít nước áp dụng nguyên tắc "sáng chế đầu tiên" như một ngoại lệ, chủ yếu để giải quyết tranh chấp, trong khi đó vẫn áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên là cơ bản (ví dụ Hoa Kỳ).
Để cấp bằng độc quyền, cơ quan sở hữu trí tuệ quốc gia hoặc khu vực sẽ thẩm định nội dung đơn để khẳng định sáng chế đáp ứng điều kiện bảo hộ. Hầu hết luật của các nước quy định để được cấp bằng độc quyền, sáng chế phải có tính mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo theo nghĩa sáng chế đó không hiển nhiên đối với người có kỹ năng trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng và sáng chế đó phải có khả năng áp dụng công nghiệp. Một điều kiện quan trọng khác là sáng chế đó không thuộc phạm vi các đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa là sáng chế. Theo tiêu chuẩn tối thiểu được quy định trong Hiệp định TRIPS và các thành viên (trên 150 nước) đều phải tuân thủ, thời hạn của bằng độc quyền sáng chế tối thiểu là 20 năm tính từ ngày nộp đơn.
Pháp luật của các nước cũng đều quy định nghĩa vụ nộp phí duy trì hiệu lực hàng năm đối với bằng độc quyền sáng chế. Trong thời gian sáng chế được bảo hộ, chủ sở hữu sáng chế có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế của mình cũng như có quyền cho phép người khác sử dụng sáng chế theo hợp đồng, chuyển nhượng quyền sở hữu và yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp chế tài đối với hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế của mình. Để cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu sáng chế và lợi ích chung của xã hội cũng như các chủ thể cùng tham gia vào hoạt động sáng tạo, đổi mới, pháp luật sáng chế của các nước đều quy định những ngoại lệ (hoặc gọi là hạn chế) đối với quyền của chủ sở hữu sáng chế. Theo đó, chủ sở hữu sáng chế không 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có quyền ngăn cấm người thứ ba thực hiện một số hành vi như sử dụng sáng chế nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy, lưu thông sản phẩm được bảo hộ do chủ sở hữu sáng chế hoặc người được chủ sở hữu sáng chế cho phép đưa ra thị trường.
Trong một số trường hợp nhất định, nhà nước có quyền nhân danh mình hoặc cho phép các bên thứ ba sử dụng sáng chế mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu sáng chế nhằm giải quyết tình trạng khẩn cấp quốc gia, bảo vệ sức khoẻ nhân dân v. VAI TRÕ CỦA HỆ THỐNG BẢO HỘ SÁNG CHẾ Cố Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln đã có một câu nói nổi tiếng "Hệ thống bằng độc quyền sáng chế đổ thêm dầu lợi ích vào ngọn lửa thiên tài". Câu nói này đã thể hiện được gần như toàn bộ ý nghĩa, vai trò của hệ thống bảo hộ sáng chế. "Dầu lợi ích" - động cơ lợi nhuận - là chất xúc tác cho sự phát triển khoa học công nghệ và kinh tế.
Hệ thống bảo hộ sáng chế có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội như thúc đẩy đổi mới, thúc đẩy tạo ra các công nghệ mới, thúc đẩy cạnh tranh, khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân vào hoạt động nghiên cứu triển khai v. Thúc đẩy đổi mới Vai trò hiển nhiên nhất của hệ thống bảo hộ sáng chế là thúc đẩy đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển để tạo ra những sản phẩm mới. Doanh nghiệp sẽ không thành công nếu tập trung đầu tư cho phát triển công nghệ nhưng bất kể người nào cũng có thể tự do sử dụng công nghệ đó. Hệ thống bảo hộ sáng chế sẽ giảm bớt rủi ro đến từ những hành vi "ăn cắp" công nghệ đó và nhờ vậy khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đưa ra các quyết định đầu tư cho phát triển công nghệ mới.
Hệ thống bảo hộ sáng chế cũng thúc đẩy nhiều người cùng tham gia vào quá trình sáng tạo vì hệ thống này tạo ra sân chơi bình đẳng cho các nhà sáng chế cá nhân và các doanh nghiệp lớn, kể cả các doanh nghiệp đa quốc 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nếu không có sự bảo hộ sáng chế thì thị trường sẽ được quyết định bởi vị thế thị trường của doanh nghiệp và các rào cản về kinh tế. Các công ty đa quốc gia sẽ có lợi trong những trường hợp này do họ có nguồn lực lớn và có thể đầu tư đáng kể để đánh bóng tên tuổi, quảng cáo sản phẩm. Ngoài ra, vị thế thị trường (độc quyền) của họ cũng sẽ tạo ra những rào cản chống lại các thương nhân đơn lẻ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thúc đẩy công bố các công nghệ mới Một lợi ích to lớn của hệ thống bảo hộ sáng chế đối với xã hội là việc bộc lộ các công nghệ mới cho công chúng. Theo quy định của các hệ thống pháp luật sáng chế của các nước trên thế giới, đơn sáng chế hoặc bằng độc quyền sáng chế và toàn bộ các tài liệu liên quan sẽ được công bố sau những thời hạn nhất định (trừ sáng chế mật). Do vậy, tất cả mọi người đều có cơ hội tiếp cận các giải pháp công nghệ được đề cập trong các đơn hoặc bằng độc quyền sáng chế đó. Mặc dù trong thời hạn sáng chế được bảo hộ thì các bên thứ ba không được sử dụng sáng chế đó (nếu không được sự cho phép của chủ sở hữu sáng chế) thì việc có được thông tin về sáng chế đó cũng vô cùng hữu ích đối với những người khác, chẳng hạn đối với những nhà sáng chế trong cùng lĩnh vực (tránh nghiên cứu trùng lặp).