CHƯƠNG I TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1.Những vấn đề chung về vốn đầu tư phát triển 1.Khái niệm chung về vốn đầu tư phát triển (ĐTPT) Từ trước đến nay,ở nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm làm rõ khái niệm về vốn ĐTPT theo nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau.Trong ngành thống kê, người ta thường sử dụng hai khái niệm : Thứ nhất, Theo tài liệu điều tra Vốn năm 2000 vốn ĐTPT được định nghĩa là “Những chi phí bỏ ra để thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn); tài sản vật chất (nhà máy, thiết bị, vật tư, nguyên, nhiên, vật liệu, hàng hoá,cầu cống, đường xá); tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực (trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, trình độ khoa học kỹ thuật) ”. Bên cạnh đó, khi có vốn đầu tư thì mới thực hiện được các dự án đó gọi là “hoạt động đầu tư phát triển”, hoạt động đầu tư phát triển chính là hoạt động sử dụng các gốc lực tài chính, vật chất, nguồn lao động… nhằm duy trì và phát triển tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội. Đồng thời, vấn đề việc làm được giải quyết và cuộc sống của người dân sẽ được cải thiện hơn. Thứ hai, Theo Tổng cục Thống kê (GOV) : “Vốn đầu tư phát triển là vốn được bỏ ra để thực hiện mục đích đầu tư đã bỏ ra ban đầu.
Vốn đầu tư phát triển gồm: vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đầu tư mua sắm thiết bị máy móc, tài sản cố định dùng cho sản xuất; vốn đầu tư bổ sung cho vốn lưu động và các nguồn vốn đầu tư phát triển khác …”. Như vậy, hai khái niệm trên của vốn ĐTPT như trên đã thể hiện phần nào được nội dung cơ bản của vốn ĐTPT. Tuy nhiên, trong thống kê người ta thường sử dụng khái niệm thứ nhất theo “Tài liệu điều tra vốn năm 2000” bởi vì nội dung của chỉ tiêu này dễ hiểu cho người đọc hơn và có ý nghĩa trong việc phân tích, đánh giá hiệu quả vốn đầu tư phát triển theo nhiều góc độ khác nhau cho các dự án ĐTPT khác nhau .Đặc điểm vốn đầu tư phát triển + Quy mô vốn cần thiết thường rất lớn: Theo khái niệm ở mục 1.1 về nội dung vốn ĐTPT: “Vốn đầu tư phát triển bao gồm: vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn lưu động bổ sung và vốn đầu tư phát triển khác”. Loại vốn đóng vai trò quan trọng nhất là vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Và Nguồn vốn ĐTPT ít hay nhiều có thể thể hiện được quy mô của mỗi dự án đầu tư phát triển khác nhau. + Thời kỳ đầu tư phát triển kéo dài: Thời gian thực hiện các dự án đầu tư bị kéo dài có thể ảnh hưởng bởi quy mô nguồn vốn ĐTPT lớn từ đó dẫn đến tiến độ hoạt động công trình bị ảnh hưởng nghiêm trọng ,vì thế hiệu quả đầu tư cùng với chất lượng đầu tư có thể bị suy giảm và sự nhiều rủi ro càng tăng lên, bên cạnh đó chi phí đầu tư cũng ngày càng lớn và có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. + Vốn đầu tư phát triển làm hoạt động đầu tư có nhiều rủi ro cao: Cũng như thời kỳ đầu tư bị kéo dài, các rủi ro của hoạt động đầu tư đều xuất phát từ quy mô của nguồn vốn thường lớn, thời gian vận hành kéo dài. Vì vậy, các hoạt động ĐTPT sẽ mang tỷ lệ rủi ro cao hơn.
Dưới đây là một số rủi ro trong quá trình đầu tư phát triển: Rủi ro được tạo ra dưới sự tác động của thời tiết (ví dụ :Trong quá trình thi công công trình, gặp phải thời tiết xấu như mưa bão,dẫn đến mội hoạt động đang thi công đều phải tạm thời ngưng lại, điều đó làm ảnh hưởng không ít đến quá trình đầu tư và hiệu quả của ĐTPT. Rủi ro trong nền kinh tế thị trường (ví dụ : giá cả, sản phẩm đầu ra cũng như cung cầu các yếu tố đầu vào cũng đều bị thay đổi ,biến động). Rủi ro do điều kiện chính trị- xã hội bất ổn định. Vai trò của vốn đầu tư phát triển Đối với nền kinh tế: + Tác động tới tổng cung nền kinh tế: Theo thời gian của việc đầu tư, sau khi thực hiện quá trình hoạt động đầu tư.
Nếu kết quả đầu tư phát huy tác dụng và các năng lực mới vào hoạt động thì sẽ làm tổng cung tăng tên. Bên cạnh đó, khi quy mô vốn đầu tư phát triển tăng lên đồng thời cũng sẽ làm tổng cung của nền kinh tế tăng 5 lên với điều kiện các yếu tố như lao động, năng suất lao động không đổi. + Tác động tới tổng cầu nền kinh tế: Đầu tư là một nhân tố vô cùng quan trọng trong tổng cầu của cả nền kinh tế. Theo số liệu được tổng hợp và phân tích của “Ngân hàng thế giới” thì trung bình trong tổng cầu của các quốc gia trên toàn thế giới đầu tư chiếm khoảng 23% - 27% về cơ cấu.
Trong tổng cầu, đầu tư có tác động ngắn hạn .Còn đối với tổng cung chưa kịp thay đổi, đầu tư tăng lên dẫn đến tổng cầu tăng, đồng thời giá cả đầu vào đều tăng. + Tác động đến sự tăng trưởng kinh tế: Theo các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đã từng cho rằng nếu muốn giữ tốc độ phát triển một cách ổn định thì đầu tư phải đạt tỷ lệ từ 15% - 20% so với GDP, phụ thuộc vào ICOR mỗi quốc gia. Sự tăng trưởng của GDP bị tác động bởi vốn đầu tư khi hệ số ICOR không đổi. + Tác động đến khoa học-công nghệ (KH-CN): Công nghệ là nhân tố chính của công nghiệp hoá.
Để công nghệ của một quốc gia phát triển, thì đầu tư luôn là điều kiện cần thiết đầu tiên. Theo UNIDO : “Nếu chia quá trình phát triển công nghệ thế giới ra làm 7 giai đoạn thì Việt Nam năm 1990 ở vào giai đoạn 1 và 2”. Như vậy, có thể thấy so với thế giới và các khu vực khác, Việt Nam có trình độ công nghệ kém phát triển hơn rất nhiều. Một khi đã liên quan đến công nghệ thì dù là nhập ngoài nước về hay tự túc nghiên cứu đều cần có vốn đầu tư.
Và đương nhiên , tất cả những phương pháp hay kế hoạch đổi mới (KH-CN) sẽ là phương pháp không khả quan nếu không đi đôi với nguồn vốn đầu tư. + Tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) : Theo nhiều nghiên cứu trước đây ở trên thế giới cho thấy , khu vực công nghiệp -dịch vụ là ngành được đầu tư nhiều nhất và có tiềm năng cơ hội phát triển cao. Đối với nhóm ngành nông nghiệp, để tốc độ tăng trưởng kinh tế dao động 4% - 5% là rất khó khăn do có nhiều hạn chế về khả năng sinh học cùng với điều kiện về đất đai .Về cơ cấu thành phần kinh tế , vốn đầu tư phát triển có vai trò giải quyết những vấn đề kinh tế phát triển giữa các thành phần kinh tế và có thể đưa ra những chính sách hợp lý để phát triển kinh tế. Đối với xã hội: + Nâng cao hạ tầng , góp phần phất triển kinh tế xã hội (KT-XH) và từ đó nâng cao mức sống của người dân trong xã hội.
6 + Góp phần giải quyết vấn đề việc làm và cải thiện cuộc sống của người dân. Từ trước tới nay, Đảng-Nhà nước luôn chú trọng và đặt sự quan tâm hàng đầu đến vấn đề việc làm. Để phát triển nền kinh tế bền vững thì vấn đề giải quyết việc làm chính là chính sách xã hội cơ bản nhất. Bởi con người chính là những tế bào của xã hội, con người có việc làm thì mới phát triển nền KT-XH không chỉ riêng mỗi công dân mà phát triển kinh tế cho cả đất nước.
+ Nâng cao ngành dịch vụ y tế, phát triển ngành giáo dục ,. và góp phần vào việc bảo vệ môi trường.Phân loại vốn đầu tư phát triển Trong các bài nghiên cứu trước đây, có rất nhiều cách phân loại vốn ĐTPT riêng trong bài phân tích và nghiên cứu về vốn ĐTPT ở nghiên cứu này, vốn ĐTPT được phân loại như sau: 1.Theo thành phần kinh tế Theo “Quyết định số 147 - TCTK - PPCĐ ngày 27/12/1993” của Tổng cục trưởng tổng cục thống kê, theo thành phần kinh tế gồm có: +Thành phần kinh tế Nhà nước : gồm các doanh nghiệp Nhà nước quản lý .Thành phần kinh tế Nhà nước hoạt động theo điều lệ hoặc doanh Nghiệp Nhà nước trong đó doanh nghiệp Nhà nước là các thành phần tham gia. Bên cạnh đó, thành phần kinh tế Nhà nước được thành lập bởi tất cả các nguồn vốn trong nước. +Thành phần kinh tế ngoài nhà nước: Bao gồm thành phần kinh tế tập thể, tư nhân, cá thể, hỗn hợp +Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài : bao gồm các doanh nghiệp hoặc công ty có vốn đầu tư nước ngoài và hoạt động trên cơ sở có toàn bộ vốn của nước ngoài hoặc có thể có một phần vốn của nước ngoài.Theo nguồn vốn đầu tư Bên cạnh sự phát triển KT-XH của kinh tế nước ta, ngày nay vốn đầu tư phát triển toàn xã hội được hình thành từ rất nhiều nguồn vốn khác nhau và đa dạng, có thể phân loại như sau: Vốn ngân sách Nhà nước (NSNN): +.
Nguồn vốn ngân sách Nhà Nước: đây là nguồn vốn được lấy từ ngân sách 7 của Nhà nước. Từ các hoạt động trong toàn bộ nền kinh tế của đất nước, nguồn vốn ngân sách Nhà nước được “tích lũy” dần dần .Nguồn thu của ngân sách Nhà nước cao hay thấp thì phụ thuộc vào nền kinh tế phát triển hay bị suy thoái. Từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước được chi tiêu qua các khoản chi của NSNN .Hơn nữa, NSNN còn là tác nhân không thể thiếu trong việc đầu tư cho phát triển KT-XH đất nước. Nguồn vốn từ tư nhân : Là nguồn vốn được lấy từ vốn tích lũy của người dân và nhiều doanh nghiệp khác nhau.
Nguồn vốn này có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế, thúc đẩy phát triển các dự án đầu tư của đất nước. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI): +Là nguồn vốn đầu tư do các chủ đầu tư ở nước ngoài đầu tư tất cả vốn tại Việt Nam hoặc các nhà đầu tư liên doanh chỉ có một phần vốn tại Việt Nam.