đặt vấn đề, giải quyết vấn đề mà còn sai lầm trong kết thúc vấn đề. Đó là chuỗi dài của những phản ánh sai lầm liên tiếp cả về nội dung và phương pháp. Vì thế, những nội dung phản ánh của tôn giáo về cơ bản không có giá trị về lý luận và thực tiễn, thậm chí nó còn là nguồn gốc gây nên những tai hoạ to lớn cho sự phát triển của tự nhiên, xã hội và con người. Hơn nữa, ý thức tôn giáo, về cơ bản là kết quả của một trình độ phản ánh cảm tính, là "hình thức cảm xúc" của những con người chưa tìm thấy mình, hoặc tự đánh mất mình một lẫn nữa.
Sự ra đời của tôn giáo gắn liền với những con người chưa nhận thức được vị trí, vai trò của mình, chưa làm chủ được tự nhiên, xã hội, hoặc tự đánh mất vai trò, vị trí và lý trí của mình trong quá trình nhận thức, cải tạo thế giới khách quan. Những con người này không chỉ tạo ra các biểu tượng sai lầm, coi biểu tượng sai lầm là có thực trong thế giới khách quan, mà còn gửi gắm cả sinh mệnh và cuộc sống vô cùng quí giá của mình cho những biểu tượng sai lầm đó. Cho nên, mọi giáo lý, giáo luật của tôn giáo nhằm hướng con người tin tưởng vào đấng siêu nhiên đều không thể tồn tại trước sự phán xét của "toà án" lý trí. Và phải chăng do nhận thức được vấn đề này, đạo Kitô đã cho rằng, tội lỗi lớn nhất (tội tổ tông) của con người đối với chúa, đối với tôn giáo là đã cố tình ăn phải "cây lý trí" [4, tr.
Cho nên, tôn giáo thật sự là sự ấu trĩ, “thời thơ ấu của nhân loại" [20, tr. 64] việc phê phán tôn giáo đang làm cho con người thoát khỏi ảo tưởng, để con người suy nghĩ trở nên có lý tính" [7, tr. Như vậy, nội dung phản ánh của tôn giáo luôn luôn là sự thống nhất giữa cái hư và cái thực, trong đó cái hư ảo, cái bịa đặt chiếm tỉ trọng tuyệt đối, giữ vai trò chủ đạo, lấn át, che lấp hầu như toàn bộ cái thực. Cái thực, được hiện ra như một nhu cầu được bù đắp tình cảm, lý trí và sức mạnh để vươn tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc; một khát vọng thoát ra và phản kháng lại cái xã hội buộc con người sinh ra tôn giáo, cần đến tôn giáo.
Tuy bị suy biến, bị phủ định và chiếm một tỉ lệ vô cùng nhỏ, song không bao giờ cái thực mất đi hoàn toàn, nó vẫn là điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại của cái ảo, của tôn giáo. Đúng như Phoiơbắc đã viết: "Trong tôn giáo, ngoài ảo tưởng ra, mặt thực tế tìm tòi cái tốt hơn tìm sự che chở, sự giúp đỡ là cực kỳ quan 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trọng" [20, tr. Hơn nữa, toàn bộ quá trình ra đời, tồn tại, vận động, phát triển của tôn giáo cũng như các hoạt động tôn giáo vừa là sự biểu hiện, vừa là quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa cái hư và cái thực. Cảm hứng tôn giáo trong văn học Không phải ngẫu nhiên, không phải chỉ kinh thánh mà kinh Coran, kinh veda đều là những kiệt tác văn học.
Đạo đức, triết học, tôn giáo và nghệ thuật là những đối tượng thuộc thượng tầng kiến trúc, từ lâu đã có mối quan hệ mật thiết và qua lại. Đạo đức, nhất là triết học tác động mạnh mẽ đến nghệ thuật, nhưng Tôn giáo lại gắn bó chặt chẽ với nghệ thuật theo một con đường riêng. Triết học dù có sâu sắc bao nhiêu, đạo đức dù có cao cả đến đâu, cũng là nhằm giải thích thế giới hoặc hướng đạo cuộc sống thực tại. Còn tôn giáo bao giờ cũng hướng về một thế giới khác, cho nên nó dễ bắt gặp tính chất lý tưởng vươn lên trên thực tế của nghệ thuật.
Feurerbach đã có một nhận xét khá sâu sắc: Tôn giáo là thơ, người ta có thể nói như vậy bởi vì lòng tin bằng sản phẩm của tưởng tượng. Văn học chân chính bao giờ cũng hướng con người vươn tới cái đẹp, cái thiện, làm cho con người càng ngày càng hoàn thiện hơn. Nghệ thuật ra đời trong thời kỳ bình minh của lịch sử nhân loại. Xuất phát từ nhu cầu lao động và nhận thức thế giới, xuất phát từ nhu cầu giao tiếp tư tưởng tình cảm, nghệ thuật đã hình thành và phát triển không ngừng.
Khi tư duy của con người phát triển, nền nghệ thuật phát triển đến trình độ cao thì tác phẩm nghệ thuật trở thành món ăn tinh thần cho con người. Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống của con người nơi trần thế, nơi con người sống với ngổn ngang những suy tư dằn vặt, với những niềm vui, nỗi buồn, nơi con người có sinh thành, phát triển và có già cỗi, mất đi, nơi những kiếp người có sinh có diệt. Văn học nghệ thuật không bao giờ thoát li đời sống. Nó lấy chất liệu từ đời sống phong phú phức tạp rồi sàng lọc qua quá trình sáng tạo của nhà văn để xây nên những hình tượng nghệ thuật.
Khác với nghệ thuật, Tôn giáo là hình thức phủ nhận thực tại, là cuộc trốn chạy hiện thực đời sống trần thế. Tôn giáo hướng con người đến thế giới thiêng liêng cao cả, nơi trú ngụ của thần thánh cao sang, bất diệt. Thế giới của Tôn giáo là thế giới được xây bằng trí tưởng tượng, xây bằng niềm mơ ước thánh thiện. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đó là thế giới có sự sống vĩnh cửu, nơi đó là tâm hồn con người sẽ được thanh thản, bình yên trong sự cưu mang của Đấng tối cao.
Nghệ thuật và Tôn giáo là hai hình thái ý thức xã hội khác nhau. Bản chất của Tôn giáo và nghệ thuật không giống nhau, nhưng hai hình thái ý thức ấy lại có những điểm gặp gỡ, giao thoa nhất định. Điểm hội tụ ấy chính là những miền bí ẩn nơi tâm hồn con người, là khao khát đền bù những hạn chế, thiếu hụt trong đời sống con người ở thực tại. Chính vì thế mà đã từ lâu Tôn giáo đã trở thành đề tài hấp dẫn cho nghệ thuật.
Không riêng gì văn học, ở lĩnh vực nhạc, họa, điêu khắc cũng có khá nhiều tác phẩm nổi tiếng hướng vào đề tài Tôn giáo. Không chỉ là đề tài mà Tôn giáo còn trở thành nguồn cảm hứng vô tận của các nhà thơ…. Thơ là hiện thực cuộc sống được kết tinh, là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp. Thơ không nói chuyện đời mà còn nói đến chuyện đạo, thơ không chỉ phản ánh các mối quan hệ tình cảm giữa người và người mà còn phản ánh ý thức của con người và giới tự nhiên.
Thơ phản ánh biểu hiện con người xã hội nhưng cũng phản ánh con người tâm linh.Tôn giáo đã mượn hình thức nghệ thuật để chuyển tải nội dung giáo lý, đức tin của mình. Vì vậy ở một số nhà thơ cảm hứng Tôn giáo thâm nhập vào nội dung cảm hứng thơ ca, trong đó có thi sỹ Hàn Mặc Tử và Huy Cận. Thơ của 2 thi sỹ này vừa phản ánh cuộc đời nơi trần thế vừa phản ánh thế giới tâm linh con người ở miền cực lạc. Có điểm giao thoa giữa tôn giáo và nghệ thuật trong hai nhà thơ này, có điều mức độ đậm nhạt khác nhau.
Một người là con chiên ngoan đạo, được mệnh danh là “thi sỹ của đạo quân thánh giá” nói thứ tiếng của Tôn giáo mình, còn người kia là kẻ ngoại đạo (Huy Cận) có cái nhìn của người ngoài cuộc.Nhưng nếu như Tôn giáo là nguồn cảm hứng vô tận đối với Hàn Mặc Tử để tác giả trải niềm đau thì nó lại là chất liệu sống động và hữu hiệu nhất để Huy Cận từ tôn giáo nói đến cuộc đời. Tôn giáo mà hai nhà thơ này hướng tới không phải là giáo phái nào khác mà chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo. Đây là hai trong số những Tôn giáo lớn nhất trên thế giới và có hệ thống tín đồ đông đảo. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu Công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ.
Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trị sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm 168-189. Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được phiên âm trực tiếp thành "Bụt", từ "Bụt" được dùng nhiều trong các truyện dân gian. Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa, Bụt được coi như một vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu.
Sau này, vào thế kỷ thứ 4-5, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ "Bụt" bị mất đi và được thay thế bởi từ "Phật". Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm thành "Phật đà", "Phật đồ" rồi được rút gọn thành "Phật". Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống.
Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến đầu thế kỷ 17, vua Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không có nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu. Thành tựu lớn nhất của Phật giáo là đã tìm ra Tứ diệu đế: Đạo Phật quan niệm cuộc đời là bể khổ(Khổ đế), tất cả mọi ham muốn của con người không đạt được đều khổ.
Nguyên nhân sinh ra khổ là ái dục và vô minh (Tập đế). Đạo Phật còn chỉ ra con đường để thoát khỏi khổ đau đấy chính là Diệt đế. Họ cho rằng sở dĩ con người rơi vào vòng đau khổ chính là có nhiều ham muốn. Do vậy phải tìm cách diệt mọi ham muốn thì con người mới thoát khỏi vòng luân hồi của bể khổ.
Đạo đế chính là con đường tu luyện để thoát khỏi vòng luân hồi ấy.