CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP THUỘC LĨNH VỰC VĂN HÓA THÔNG TIN 1. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP THUỘC LĨNH VỰC VĂN HÓA, THÔNG TIN Theo Luật Viên chức năm 2010, đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước. Đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thông tin chịu sự quản lý Nhà nước về báo chí, về truyền dẫn, phát sóng, phát hành phim, ảnh của Bộ văn hóa thông tin. Các đơn vị sự nghiệp được phân loại như sau: - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động).
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động). - Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động). Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định trên, được ổn định trong thời gian 3 năm, sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp. Trong thòi gian ổn định phân loại, trường hợp đơn vị sự nghiệp có thay đổi chức năng, nhiệm vụ, tổ chức thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét điều chỉnh phân loại lại cho phù hợp.
Đơn vị SNCL thường được thiết lập theo một hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến địa phương. Các đơn vị đó hình thành nên các cấp dự toán khác nhau tùy theo trách nhiệm phân cấp quản lý tài chính. Theo Luật NSNN, các đơn vị SNCL trong cùng một ngành được phân thành 3 cấp: 5 - Đơn vị dự toán cấp 1: Là đơn vị trực tiếp nhận và phân bổ dự toán cho đơn vị cấp dưới và chịu trách nhiệm trước Nhà nước về quản lý kinh phí của toàn ngành, giải quyết các vấn đề liên quan đến kinh phí với cơ quan tài chính đồng cấp. Thực hiện cấp phát kinh phí, kiểm tra và quyết toán kinh phí trong toàn bộ hệ thống.
Dựa trên phân cấp quản lý theo Luật NSNN hiện nay, đơn vị dự toán cấp 1 là các Bộ (Trung ương), các Sở (cấp tỉnh) hoặc các Phòng (cấp huyện). - Đơn vị dự toán cấp 2: Là đơn vị trực thuộc của đơn vị dự toán cấp 1, có nhiệm vụ quản lý kinh phí ở cấp trung gian, là cầu nối giữa đơn vị dự toán cấp 1 và cấp 3 trong một hệ thống. Đơn vị dự toán cấp 2 nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp 1 và phân bổ cho đơn vị dự toán cấp 3 trực thuộc, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và cấp dưới trực thuộc. - Đơn vị dự toán cấp 3: Là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao.
Đơn vị này nhận dự toán ngân sách từ đơn vị dự toán cấp 2 hoặc cấp 1 (nếu không có cấp 2) và tổ chức thực hiện công tác quyết toán ngân sách của đơn vị mình. NỘI DUNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP THUỘC LĨNH VỰC VĂN HÓA THÔNG TIN 1. Chính sách tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực văn hóa thông tin Hiện nay một số các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực văn hóa thông tin thực hiện theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP một số khác thực hiện theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP. Các đơn vị SNCL đã được giao triển khai thực hiện cơ chế quản lý tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ về việc quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị SNCL.
Bộ Tài chính đã ban hành các Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP; Thông tư số 113/2007/TT-BTC ngày 24/9/2007 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 71/2006/TT-BTC; Thông tư số 81/2006/TT-BTC ngày 9/6/2006 về việc hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị SNCL thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. 6 Ngoài ra còn có các quy định đặc thù khác như: Nghị định số 61/2002/NĐ- CP ngày 11/6/2002 của Chính phủ về chế độ nhuận bút, Thông tư liên tịch số 21/2003/TTLT-BVHTT-BTC ngày 01/7/2003 của Bộ Văn hóa Thông tin và Bộ Tài chính quy định về nhuận bút; Thông tư liên tịch số 17/2010/TTLT-BTTTT-BNV ngày 27/7/2010 của Bộ Nội vụ và Bộ Thông tin Truyền thông hướng thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ câu tổ chức văn hóa, phim ảnh thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện; Thông tư số 55/2010/TT-BTC ngày 16/4/2010 của Bộ Tài chính Hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đơn vị văn hóa thuộc cấp tỉnh, cấp huyện. Các đơn vị thực hiện theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/4/2015 và thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ. Tuy nhiên, trong khi Chính phủ chưa ban hành hoặc sửa đổi Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị SNCL trong từng lĩnh vực cụ thể theo quy định của Nghị định số 16/2015/NĐ- CP thì các đơn vị SNCL theo từng lĩnh vực được tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ.
Một số nội dung đổi mới về tự chủ tài chính đối với đơn vị SNCL theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ: - Quy định tự chủ tài chính của đơn vị SNCL theo mức độ khác nhau: + Tự chủ tài chính đối với đơn vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư. + Tự chủ tài chính đối với đơn vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên. + Tự chủ tài chính đối với đơn vị SNCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí). + Tự chủ tài chính đối với đơn vị SNCL do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thấm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp).
- Về quyền tự chủ trong chi đầu tư và chi thường xuyên: 7 Các đơn vị được chủ động sử dụng các nguồn tài chính được giao tự chủ, bao gồm nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công (kế cả nguồn ngân sách Nhà nước đấu thầu, đặt hàng), nguồn thu phí theo quy định được để lại chi và nguồn thu hợp pháp khác, để chi thường xuyên. Đối với các nội dung chi đã có định mức chi theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: Căn cứ vào khả năng tài chính, đơn vị được quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan Nhà nước có thấm quyền ban hành và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị. Đối với các nội dung chi chưa có định mức chi theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, căn cứ tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp theo mức độ được tự chủ tài chính của từng loại đơn vị SNCL và theo quy chế chi tiêu nội bộ. Đối với một số định mức, tiêu chuẩn quy định mang tính chất chung cho các cơ quan Nhà nước, đơn vị SNCL, thì các đơn vị phải tuân thủ, như tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô, nhà làm việc, trang bị điện thoại, chế độ công tác phí nước ngoài, tiếp khách nước ngoài, hội thảo quốc tế.
Căn cứ nhu cầu đầu tư và khả năng cân đối các nguồn tài chính, đơn vị chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Trên cơ sở danh mục dự án đầu tư đã được phê duyệt, đơn vị quyết định dự án đầu tư, bao gồm các nội dung về quy mô, phương án xây dựng, tổng mức vốn, nguồn vốn, phân kỳ thời gian triển khai theo quy định của pháp luật về đầu tư. Đơn vị SNCL được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định. Nội dung thu, chi tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực văn hóa thông tin Quản lý tài chính theo nghĩa rộng được hiểu là việc sử dụng tài chính làm công cụ quản lý hệ thống xã hội thông qua việc sử dụng những chức năng vốn có của nó.
Quản lý tài chính theo nghĩa hẹp là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nó và lập kế hoạch sử dụng nguồn tài chính (thông qua các định mức, 8 quy định chi tiêu hiện hành của Nhà nước), tài sản cố định, đội ngũ với mục tiêu là đạt được hiệu quả cao nhất. Nhà nước ban hành cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị SNCL nhằm mục đích sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả kinh phí của Nhà nước, đảm bảo chi đúng, chi đủ, 'có hiệu quả tạo ra những tiền đề phát triển kinh tế, tăng tích lũy trong nền kinh tế, thực hiện tốt quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các nguồn thu Nguồn thu tài chính của các đơn vị SNCL thuộc lĩnh vực văn hóa thông tin bao gồm: Nguồn NSNN cấp và nguồn ngoài NSNN cấp. Theo quy định của Luật NSNN thì nguồn NSNN bao gồm: Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; Các khoản viện trợ; Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.