Chương 1: Cơ sở lý luận về quy trình kiểm toán khoản mục Nợ phải thu khách hàng. Chương 2: Thực trạng quy trình kiểm toán khoản mục Nợ phải thu khách hàng tại công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Toàn Cầu. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục Nợ phải thu khách hàng tại công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Toàn Cầu. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI THU KHÁCH HÀNG 1.
Một số nội dung liên quan đến kiểm toán khoản mục Nợ phải thu khách hàng 1. Khái niệm, đặc điểm khoản mục Nợ phải thu khách hàng Khái niệm: Khoản mục nợ phải thu khách hàng là các khoản phát sinh trong quá trình bán hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ khi thời điểm bán hàng và thu tiền không trùng nhau. “Các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng phát sinh từ bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư, tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ”. Khoản mục này còn dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu xây dựng cơ bản với người giao thầu về khối lượng công tác xây dựng cơ bản đã hoàn thành.
Các khoản phải thu khách hàng là tài sản của đơn vị nhưng bị người mua chiếm dụng mà đơn vị có trách nhiệm phải thu hồi. Do đó, khoản mục nợ phải thu khách hàng ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tài chính và khả năng xoay vòng vốn của đơn vị. Khoản mục nợ phải thu khách hàng trình bày tại phần A “Tài sản ngắn hạn trên Bảng cân đối kế toán gồm khoản mục “Phải thu ngắn hạn của khách hàng” (mã số 131) ghi theo số phải thu gộp. Riêng khoản “Phải thu dài hạn của khách hàng (mã số 211) được trình bày trong phần B “Tài sản dài hạn”.
Khoản mục “Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi” (mã số 137) và “Dự phòng phải thu dài hạn khó đòi (mã số 219) được ghi theo số âm. Khoản mục nợ phải thu khách hàng được phát ánh thông qua tài khoản 131. Tài khoản này có số dư bên Nợ và số dư bên Có dư bên Nợ thể hiện số tiền còn phải thu của khách hàng, số dư bên Có thể hiện tiền nhận trước hoặc số đã thu nhiều hơn số phải thu của khách hàng (Lê Trần Hạnh Phương và cộng sự, 2020, tr. Đặc điểm: Khoản mục nợ phải thu khách hàng là một loại tài sản khá nhạy cảm với các gian lận như nhân viên đơn vị chiếm dụng, tham ô khoản nợ thu hồi được từ khách hàng vì mục đích riêng.
Khả năng xảy ra gian lận, biển thủ ở khoản mục nợ phải thu khá cao với nhiều thủ thuật gian lận tinh vi và phụ thuộc rất lớn vào phẩm chất của nhân viên liên quan phần hành này. Nợ phải thu phát sinh trong chu trình bán hàng nên có mối quan hệ chặt chẽ đến kết quả kinh doanh, do đó là đối tượng để sử dụng các thủ thuật thổi phồng doanh thu và lợi nhuận của đơn vị (Sơ đồ 1.1: Mối liên hệ giữa nợ phải thu và các tài khoản khác trong chu trình bán hàng (Nguồn: Giáo trình Kiểm toán báo cáo tài chính 1 trường Đại học Quy Nhơn) Nợ phải thu khách hàng được trình bày theo giá trị thuần có thể thực hiện được nên có nhiều khả năng sai sót và khó kiểm tra. Do việc lập dự phòng phải thu khó đòi thường dựa vào sự ước tính của nhà quản lí nên dễ xảy ra các sai sót và khó kiểm tra. Người sử dụng BCTC thường có dựa vào mối liên hệ giữa tài sản và công nợ để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Do đó luôn có khả năng đơn vị ghi tăng các khoản nợ phải thu khách hàng so với thực tế nhằm làm tăng khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Hầu hết các khoản tiền thu được của doanh nghiệp đều có liên quan đến các khoản phải thu khách hàng, do đó gian lận rất dễ phát sinh từ các khoản này. Do vậy, rủi ro tiềm tàng của khoản mục nợ phải thu thường được KTV đánh giá là cao. Vì vậy, KTV thường dành nhiều thời gian để kiểm tra phần hành này mặc dù khoản mục thường chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng tài sản.
Nguyên tắc ghi nhận kế toán khoản mục Nợ phải thu khách hàng Điều 18 thông tư 200/2014/TT-BTC quy định chi tiết những nguyên tắc kế toán của tài khoản Nợ phải thu khách hàng (TK 131), trong đó những nguyên tắc cơ bản như sau: 6 - Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hóa, BĐS đầu tư, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ. Tài khoản này còn dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu XDCB với người giao thầu về khối lượng công tác XDCB đã hoàn thành. Không phản ánh vào tài khoản này các nghiệp vụ thu tiền ngay. - Khoản phải thu của khách hàng cần được hạch toán chi tiết cho từng đối tượng, từng nội dung phải thu, theo dõi chi tiết kỳ hạn thu hồi (trên 12 tháng hay không quá 12 tháng kể từ thời điểm báo cáo) và ghi chép theo từng lần thanh toán.
Đối tượng phải thu là các khách hàng có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp về mua sản phẩm, hàng hoá, nhận cung cấp dịch vụ, kể cả TSCĐ, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính. - Bên giao ủy thác xuất khẩu ghi nhận trong tài khoản này đối với các khoản phải thu từ bên nhận ủy thác xuất khẩu về tiền bán hàng xuất khẩu như các giao dịch bán hàng, cung cấp dịch vụ thông thường. - Trong hạch toán chi tiết tài khoản này, kế toán phải tiến hành phân loại các khoản nợ, loại nợ có thể trả đúng hạn, khoản nợ khó đòi hoặc có khả năng không thu hồi được, để có căn cứ xác định số trích lập dự phòng phải thu khó đòi hoặc có biện pháp xử lý đối với khoản nợ phải thu không đòi được. - Trong quan hệ bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo thoả thuận giữa doanh nghiệp với khách hàng, nếu sản phẩm, hàng hoá, BĐS đầu tư đã giao, dịch vụ đã cung cấp không đúng theo thoả thuận trong hợp đồng kinh tế thì người mua có thể yêu cầu doanh nghiệp giảm giá hàng bán hoặc trả lại số hàng đã giao.
- Doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu của khách hàng theo từng loại nguyên tệ. Đối với các khoản phải thu bằng ngoại tệ thì thực hiện theo nguyên tắc: + Khi phát sinh các khoản nợ phải thu của khách hàng (bên Nợ tài khoản 131), kế toán phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát sinh (là tỷ giá mua của ngân hàng thương mại nơi chỉ định khách hàng thanh toán). Riêng trường hợp nhận trước của người mua, khi đủ điều kiện ghi nhận doanh thu thì bên Nợ tài khoản 131 áp dụng tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh đối với số tiền đã nhận trước. + Khi thu hồi nợ phải thu của khách hàng (bên Có tài khoản 131) kế toán phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh cho từng đối tượng khách nợ (Trường hợp khách nợ có nhiều giao dịch thì tỷ giá thực tế đích danh được xác định là tỷ giá bình quân gia quyền di động các giao dịch của khách nợ đó).
Riêng trường 7 hợp phát sinh giao dịch nhận trước tiền của người mua thì bên Có tài khoản 131 áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế (là tỷ giá ghi vào bên Nợ tài khoản tiền) tại thời điểm nhận trước. + Doanh nghiệp phải đánh giá lại các khoản phải thu của khách hàng có gốc ngoại tệ tại tất cả các thời điểm lập Báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật. Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá lại khoản phải thu của khách hàng là tỷ giá mua ngoại tệ của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp chỉ định khách hàng thanh toán tại thời điểm lập Báo cáo tài chính. Trường hợp doanh nghiệp có nhiều khoản phải thu và giao dịch tại nhiều ngân hàng thì được chủ động lựa chọn tỷ giá mua của một trong những ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao dịch.
Các đơn vị trong tập đoàn được áp dụng chung một tỷ giá do công ty mẹ quy định (phải đảm bảo sát với tỷ giá giao dịch thực tế) để đánh giá lại các khoản phải thu của khách hàng có gốc ngoại tệ phát sinh từ các giao dịch trong nội bộ tập đoàn. Điều 6 tại Thông tư 48/2019/TT-BTC hướng dẫn cụ thể về việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi. Hiệu số giữa Phải thu khách hàng và Dự phòng phải thu khó đòi phản ánh Nợ phải thu thuần (tức giá trị thuần có thể thực hiện được). - Nguyên tắc lập Dự phòng nợ phải thu khó đòi: (1) Dự phòng phần giá trị tổn thất của các khoản nợ phải thu đã quá hạn thanh toán và khoản nợ phải thu chưa đến nạn thanh toán nhưng có khả năng không thu hồi được đúng hạn.
(2) Thời điểm trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng là thời điểm lập Báo cáo tài chính năm. (3) Cơ sở lập dự phòng là những bằng chứng đáng tin cậy về khoản nợ phải thu khó đòi như khách hàng bị phá sản hay gặp tổn thất lớn về tài sản nên không có khả năng thanh toán hay đơn vị đã làm thủ tục nhiều lần nhưng khách hàng không trả nợ.đơn vị căn cứ theo Điều 6 tại Thông tư 48/2014/TT-BTC để hoàn thành đầy đủ thủ tục để trích lập dự phòng. Mục tiêu kiểm toán Theo VSA 200, mục tiêu của việc thực hiện kiểm toán BCTC là giúp cho KTV đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập một cách phù hợp theo khuôn khổ lập và trình bày BCTC trên khía cạnh trọng yếu hay không? Mục tiêu của kiểm toán BCTC còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy được rõ sự tồn tại và sai sót từ bên ngoài và bên trong doanh nghiệp để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Đối với khoản mục nợ phải thu khách hàng, ta cần đạt được các mục tiêu sau đây: 8 Hiện hữu: Đảm bảo tất cả các khoản phải thu khách hàng ngắn hạn, dài hạn được ghi nhận trong Sổ Cái là hiện hữu tại ngày kết thúc kỳ kế toán.