Chương 1: Những vấn đề chung về kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại Chương 2: Thực tiễn kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam. Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam 1 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 KHÁI NIỆM VÀ NHIỆM VỤ CỦA KIỂM TOÁN NỘI BỘ Kiểm toán nội bộ đã hình thành và phát triển tử nhiểu thế kỉ trƣớc nhƣng thực sự đƣợc công nhận là 1 nghề nghiệp chính thức vào năm 1941 khi thành lập Hội kiểm toán viên nội bộ (Institute of Internal Auditors – IIA) tại New York. Kiểm toán nội bộ đã có lịch sử tồn tại và phát triển trên 60 năm và đƣợc thừa nhận ở trên 165 quốc gia nhƣ 1 nghề nghiệp mang tính chuyên nghiệp. Kiểm toán nội bộ ra đời nhằm thỏa mãn các yêu cầu quản lý của doanh nghiệp và một số tổ chức khác.
Kiểm toán nội bộ phát triển gắn liền với yêu cầu và nhận thức của nhà quản lý. Trong thời kì đầu, trọng tâm của việc kiểm toán nội bộ là những vấn đề về tài chính kế toán. Dần dần vai trò của kiểm toán nội bộ đƣợc mở rộng nhằm giúp hoàn thiện các chính sách và các thủ tục kiểm soát đối với toàn bộ hoạt động của đơn vị. Trải qua thời gian, hoạt động kiểm toán nội bộ đã phát triển rất nhanh chóng.
Cùng với sự phát triển kiểm toán nội bộ là quá trình phát triển của Hiệp hội Kiểm Toán Viên Nội Bộ. Tổ chức này đã trở thành tổ chức quốc tế và hoạt động rộng khắp thông qua hệ thống phân hội tại các nhiều quốc gia.1 Khái niệm kiểm toán nội bộ Kiểm toán nội bộ ra đời xuất phát từ yêu cầu của quá trình quản lý. Bất kỳ một quá trình quản lý nào cũng bao gồm ba trách nhiệm cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo. Để thực hiện các trách nhiệm đó, các nhà quản lý đƣa ra các chính sách, thủ tục, quy định trong tổ chức.
Khi qui mô tổ chức tăng lên, các chính sách, thủ tục này càng phức tạp, một bộ phận trong đơn vị sẽ đƣợc tách ra, chuyên môn hóa trong công việc kiểm tra và đánh giá hệ thống kiểm soát của đơn vị. Đó là kiểm toán nội bộ. Nhƣ vậy, bản chất của kiểm toán nội bộ là một bộ phận độc lập trong đơn vị tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá đối với hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị nhằm phục vụ cho yêu cầu của ngƣời quản lý. Theo Chuẩn mực thực hành kiểm toán chuyên nghiệp cho kiểm toán nội bộ (The Standards for the Professional Practice of Internal Auditing – SPPIA, ban hành 2 tháng 5 năm 1978 của Viện Kiểm toán nội bộ (IIA) thì “Kiểm toán nội bộ là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó” [6, trang 9].
Đến tháng 6 năm 1999, định nghĩa của IIA về kiểm toán nội bộ đã mở rộng hơn vai trò chức năng của kiểm toán nội bộ trên thế giới, cụ thể “Kiểm toán nội bộ là một sự đảm bảo khách quan, độc lập và hoạt động tư vấn được thiết kế để tăng thêm giá trị và cải tiến các hoạt động của một tổ chức. Kiểm toán nội bộ giúp một tổ chức hoàn thành các mục tiêu của tổ chức bằng cách cung cấp một phương pháp có kỷ luật, có hệ thống để đánh giá và cải tiến tính hữu hiệu của các quá trình điều hành, kiểm soát và quản lý rủi ro” [5, trang 12]. Bên cạnh đó, cũng có quan điểm khác về kiểm toán nội bộ nhƣ quan điểm của Liên đoàn kế toán quốc tế (International Federation of Accountants – IFAC): “Kiểm toán nội bộ là một hoạt động đánh giá được lập ra trong một đơn vị kinh tế như một loại dịch vụ cho đơn vị đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát tính thích hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ” [4, trang 493]. Tại Việt Nam, Khoản 1 điều 2 Quy chế kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/08/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc quy định: “Kiểm toán nội bộ là hoạt động kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ các chính sách, thủ tục quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, thông qua đó đơn vị thực hiện kiểm toán nội bộ đưa ra các kiến nghị, tư vấn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các hệ thống, các quy trình, quy định, góp phần đảm bảo tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật” [15] Khái niệm về kiểm toán nội bộ thay đổi theo từng thời kì.
Tuy nhiên, khái niệm về kiểm toán nội bộ đƣợc quy định tại khoản 2 điều 41 Luật các tổ chức tính dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 của Quốc hội là tƣơng đối đầy đủ và phù hợp nhất: “Kiểm toán nội bộ thực hiện rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối 3 với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng; đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật.2 Một số khái niệm khác 1.1 Kiểm tra Kiểm tra là đo đƣờng và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu và các kế hoạch vạch ra để thực hiện các mục tiêu này đã và đang đƣợc hoàn thành. Kiểm tra là công việc đƣợc thực hiện thƣờng xuyên trong tất cả các nghiệp vụ; là một bộ phận, một mắt xích quan trọng trong một quy trình tác nghiệp trong hoạt động của một phòng ban chức năng và đƣợc tiến hành trƣớc, trong và sau một quy trình tác nghiệp. Kiểm tra và kiểm toán đều tiến hành theo hình thức gián tiếp trên cơ sở các tài liệu, báo cáo, hoặc bằng hình thức trực tiếp với đối tƣợng cần kiểm tra và đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, định kỳ hoặc đột xuất, do một ngƣời hoặc thành lập đoàn thực hiện. Đồng thời, kiểm tra và kiểm toán có cùng chung mục đích là giám sát hoạt động ngân hàng tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc, chống lại các hành vi lừa đảo, hạn chế rủi ro, duy trì hoạt động ngân hàng trong an toàn, hiệu quả theo đúng đƣờng lối đề ra.
Nhƣng kiểm toán nội bộ cũng có những điểm khác biệt so với kiểm tra nhƣ kiểm toán nội bộ chỉ thực hiện sau khi các hoạt động kinh tế đã hoàn tất; kiểm toán nội bộ không nằm trong quy trình tác nghiệp nhƣ kiểm tra nội bộ, nó tách ra khỏi quy trình, đứng bên ngoài để nhìn vào một cách khách quan quy trình đang vận hành nhƣ thế nào; hoạt động kiểm toán nội bộ có kỹ thuật thực hiện riêng với phạm vi giới hạn nhất định trái ngƣợc với hoạt động kiểm tra đƣợc thực hiện đối với tất cả các nghiệp vụ. Nhƣ vậy, kiểm tra là yếu tố cấu thành trong hoạt động quản lý, là xem xét những nội dung, mục tiêu đề ra đƣợc thực hiện nhƣ thế nào, có mang lại kết quả nhƣ mong đợi, từ đó đề ra các biện pháp tiếp theo, đảm bảo cho sự thành công của mục tiêu đã xác định.2 Kiểm soát nội bộ Chức năng kiểm soát luôn chiếm một vị trí quan trọng trong mọi quy trình quản lý. Vì thế, hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đƣợc thiết lập và thực hiện chức năng kiểm soát. Theo khoản 1 điều 2 của Committee of Sponsoring Organization of Treaway Commission – COSO (COSO là một ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính) thì: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu : mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động, mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính, mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định.3 Thanh tra Điều 3 Luật Thanh tra do Quốc hội nƣớc ta ban hành năm 2004 giải thích rõ “Hoạt động thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trong đó: - Thanh tra nhà nƣớc là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nƣớc đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục đƣợc quy định trong Luật này và các quy định khác của pháp luật. [11] -Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban thanh tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phƣờng, thị trấn, cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nƣớc. [11] 5 So với kiểm toán nội bộ hoạt động thanh tra diễn ra không thƣờng xuyên nhƣng có tính độc lập cao hơn nên thƣờng có hiệu quả hơn vì ngƣời kiểm tra không phải là ngƣời của đơn vị đƣợc kiểm toán. Ngoài việc kiểm tra hoạt động chi nhánh, thanh tra ngân hàng nhà nƣớc cũng tiến hành xem xét hoạt động kiểm toán nội bộ của một ngân hàng.
Nếu phát hiện điểm không hợp lý trong quy trình kiểm toán của bộ phận kiểm toán nội bộ tại các NHTM, thanh tra NHNN sẽ có biện pháp chấn chỉnh.