CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN VẬN TẢI XUẤT NHẬP KHẨU 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN VẬN TẢI XUẤT NHẬP KHẨU 1.1 Khái niệm hoạt động giao nhận Trong chu trình tái sản xuất xã hội gồm 2 khâu sản xuất và tiêu thụ, mà giao nhận vận tải là những hoạt động nằm trong khâu lưu thông phân phối gồm những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hoá từ nơi gởi hàng (người gởi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng). Vì vậy giao nhận vận tải thực hiện chức năng đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Theo quy tắc mẫu của liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA - International Federation of Freight Forwarders Association) về dịch vụ giao nhận như sau: “bất cứ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa”. (Giáo trình vận tải giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu-PGS.TS Hoàng Văn Châu) Theo điều 233 Luật Thương mại : “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục Hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao".
Do đó giao nhận vận tải là khâu không thể thiếu, góp phần nối liền sản xuất với tiêu thụ.2 Đặc điểm của hoạt động giao nhận vận tải Giao nhận vận tải là một loại hình dịch vụ mà trong đó nó là hàng hoá vô hình nên không có tiêu chuẩn đánh giá đồng nhất, không thể cất giữ trong kho, sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào cảm nhận của người được phục vụ. Bên cạnh đó giao nhận vận tải có những đặc điểm riêng biệt biệt so với các loại hình dịch vụ khác: GVHD: THS. PHẠM THỊ KIM DUNG 8 SVTH: NGUYỄN ĐỨC LAN NHI LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1: Cơ sở lý luận về giao nhận vận tải xuất nhập khẩu - Giao nhận vận tải làm cho hàng hoá di chuyển từ nơi này đến nơi khác nhưng không tác động làm thay đổi hàng hoá. Giao nhận vận tải còn có tác động tích cực góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao đời sống nhân dân.
- Có tính chất thụ động: đây là dịch vụ phụ thuộc nhiều vào nhu cầu của khách hàng, quy định của người vận chuyển, các ràng buộc về Pháp luật (Luật xuất nhập khẩu, Luật thương mại,…), thể chế của chính phủ (nước nhập khẩu, nước xuất khẩu, nước thứ ba,.) - Dịch vụ giao nhận còn mang tính thời vụ vì phụ thuộc nhiều vào lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, nếu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu lớn thì dịch vụ giao nhận sẽ phát triển mạnh và ngược lại. - Ngoài các dịch vụ cơ bản như làm thủ tục, môi giới, lưu cước, người làm dịch vụ giao nhận còn có thể cung cấp các dịch vụ khác như gom hàng, chia hàng, bốc xếp hàng,… Vì thế người giao nhận phải có cơ sơ vật chất kỹ thuật cũng như kinh nghiệm để có thể đem đến cho khách hàng dịch vụ tốt nhất.3 Yêu cầu của hoạt động giao nhận vận tải Một số yêu cầu của dịch vụ giao nhận bao gồm: - Giao nhận hàng hoá phải có tính nhanh gọn: nhanh gọn thể hiện ở thời gian ngắn hay dài. Người giao nhận cần phải nắm rõ quy trình giao nhận vận tải để có thể lên lịch sắp xếp thời gian, phương tiện hợp lý để có thể tiết kiệm thời gian vận chuyển, kiểm đếm hàng, bốc dỡ, kiểm hoá. Giảm thời gian giao nhận giúp hoàn thành sớm quy trình giao nhận góp phần tiết kiệm thời gian và chi phí.
- Giao nhận hàng hoá cần phải chính xác và an toàn: chất lượng dịch vụ thể hiện qua độ chính xác và mức an toàn cho hàng hoá. Trong quy trình giao nhận cần phải đảm bảo đủ số lượng không thiếu hụt, tránh hư hại, tổn thất về hàng hoá để hoàn thành tốt và nâng cao chất lượng dịch vụ. - Giao nhận hàng hoá phải đảm bảo chi phí thấp nhất: Trong tình hình cạnh tranh gay gắt hiện nay, ngoài tính nhanh gọn, chính xác và an toàn cần phải có phí dịch vụ tốt. Người giao nhận cần phải đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ nhân viên hợp lý để tiện phục vụ cho dịch vụ, góp phần hạ giá thành xuống mức thấp nhất có thể để nâng cao hiệu quả cạnh tranh.
PHẠM THỊ KIM DUNG 9 SVTH: NGUYỄN ĐỨC LAN NHI LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1: Cơ sở lý luận về giao nhận vận tải xuất nhập khẩu 1.2 YÊU CẦU ĐỐI VỚI NGƯỜI GIAO NHẬN 1.1 Khái niệm người giao nhận Theo FIATA - International Federation of Freight Forwarders Association, “Người giao nhận là người lo toan để hàng hóa được chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hành động vì lợi ích của người ủy thác. Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho, trung chuyển, làm thủ tục Hải quan, kiểm hoá”. Còn theo Luật Thương mại Việt Nam thì “người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa. Dù ở các nước khác nhau, tên gọi của người giao nhận có khác nhau, nhưng tất cả đều cùng mang một tên chung trong giao dịch quốc tế là “ người giao nhận hàng hóa quốc tế” (international freight forwarder), và cùng làm một dịch vụ tương tự nhau, đó là dịch vụ giao nhận”.
Tóm lại, người giao nhận là người thực hiện tất cả các khâu: chuẩn bị chứng từ, giấy tờ, thủ tục để hàng có thể bốc dỡ, lưu kho, bảo quản, chuyên chở, thông quan, quá cảnh,. trong việc vận chuyển hàng từ nơi này đến nơi khác. Các khâu, các công đoạn có thể do chính người giao nhận thực hiện hoặc thông qua các forwarder cùng hợp tác để thực hiện hợp đồng nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho người uỷ thác.2 Vai trò của người giao nhận trong thương mại quốc tế Trong thương mại quốc tế người giao nhận đã làm các chức năng và công việc của những người sau đây: Môi giới Hải quan Thuở ban đầu, người giao nhận chỉ hoạt động trong nước, nhiệm vụ của người giao nhận lúc bấy giờ là làm thủ tục Hải quan đối với hàng nhập khẩu như một môi giới Hải quan. Sau đó người giao nhận mở rộng hoạt động phục vụ cả hàng xuất khẩu và dành chở hàng trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng tàu theo sự uỷ thác của người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu tuỳ thuộc vào hợp đồng mua bán.
Trên cơ sở được Nhà Nước cho phép, theo sự uỷ thác của người xuất khẩu, người nhập khẩu, người giao nhận sẽ thay mặt họ để khai báo và làm thủ tục Hải quan như một môi giới Hải quan. PHẠM THỊ KIM DUNG 10 SVTH: NGUYỄN ĐỨC LAN NHI LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1: Cơ sở lý luận về giao nhận vận tải xuất nhập khẩu Đại lý (Agent) Bản chất của đại lý vận tải là hoạt động trung gian giữa người gởi hàng và người vận chuyển. Người giao nhận vận tải sẽ thay mặt người uỷ thác (chủ hàng hoặc người chuyên chở) để thu xếp việc vận tải, giao nhận hàng hoá bao gồm các công việc: nhận hàng, giao hàng, lập chứng từ, làm thủ tục Hải quan…dựa trên hợp đồng uỷ thác và những thông tin cần thiết mà người uỷ thác đã cung cấp cho đại lý. Ngoài ra đại lý vận tải có thể thực hiện hai hợp đồng vận tải cùng lúc: hợp đồng với chủ tàu và hợp đồng với chủ hàng.
Người gom hàng (Cargo consolidator) Trong vận tải hàng hoá bằng container, dịch vụ gom hàng là không thể thiếu. Ở đây người giao nhận sẽ biến lô hàng lẻ (LCL) thành hàng nguyên container (FCL) để tận dụng sức chở cũng như sức chứa của container, sử dụng tốt và có hiệu quả phương tiện vận tải và tiết kiệm chi phí vận tải. Người chuyên chở (Carrier) Người giao nhận với vai trò là người chuyên chở sẽ chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hoá từ nơi gởi hàng đến nơi nhận hàng trong trường hợp trực tiếp ký hợp đồng với chủ hàng. Có hai trường hợp là người thầu chuyên chở và người chuyên chở thực tế.
Trường hợp ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở là người thầu chuyên chở, còn trường hợp trực tiếp chuyên chở là người chuyên chở thực tế. Tuy nhiên trong trường hợp nào cũng phải chịu trách nhiệm về hàng hoá trong suốt hành trình. Lưu kho hàng hoá, lo liệu chuyển tải và tiếp gửi hàng hoá (Transhipment and on Carriage, Warehousing) Khi hàng hoá cần phải lưu kho trước khi xuất khẩu hoặc sau khi nhập khẩu, người giao nhận sẽ dùng phương tiện của mình hoặc thuê của người khác để tiến hành lưu kho và sẽ phân phối hàng (nếu cần). Nếu như hàng hoá phải chuyển tải hoặc quá cảnh, người giao nhận sẽ chuẩn bị thủ tục cần thiết để quá cảnh hoặc tổ chức chuyển tải hàng hoá từ phương tiện này sang phương tiện khác, hoặc giao hàng đến tay người nhận.
Người kinh doanh vận tải đa phương thức Theo Công ước của Liên hợp quốc, "MTO là bất kỳ người nào tự mình hoặc thông qua một người khác thay mặt cho mình, ký một hợp đồng vận tải đa phương GVHD: THS. PHẠM THỊ KIM DUNG 11 SVTH: NGUYỄN ĐỨC LAN NHI LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1: Cơ sở lý luận về giao nhận vận tải xuất nhập khẩu thức và hoạt động như là một người uỷ thác chứ không phải là một người đại lý hoặc người thay mặt người gửi hàng hay những người chuyên chở tham gia công việc vận tải đa phương thức và đảm nhận trách nhiệm thực hiện hợp đồng". Quy tắc về chứng từ vận tải đa phương thức của Hội nghị Liên hợp quốc về buôn bán và phát triển / Phòng thương mại quốc tế định nghĩa như sau: - "MTO là bất kỳ một hợp đồng vận tải đa phương thức và nhận trách nhiệm thực hiện hợp đồng đó như là một người chuyên chở".