CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 6 1. Lý luận cơ bản về thuế và thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm, bản chất, chức năng của thuế 1. Khái niệm Hiện nay vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế.
Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này.Mác, thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước. Theo Ăng-ghen, để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà nước, đó là thuế. Theo từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp v. buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định.
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc được Nhà nước quy định để mọi người dân và các tổ chức kinh tế phải nộp cho NSNN. Hoặc thuế là hình thức động viên, phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân do các cá nhân và các tổ chức kinh tế nộp cho Nhà nước hình thành các quỹ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước .[1] Tuy các khái niệm về thuế của các nhà kinh tế có khác nhau, nhưng ở góc độ chung, mang tính phổ biến có thể hiểu: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. [2] Hiện nay, một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn được áp dụng phổ biến như sau: Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng. Bản chất của thuế 7 Bản chất của nhà nước quy định bản chất của thuế.
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế, người ta nhận thấy thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác của Nhà nước, đó là: Thứ nhất: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự. Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN.
Thứ hai: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp. Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn đúng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu từ công dân đó, như là khoản vay mượn. Nó sẽ được hoàn trả lại cho người nộp thuế (NNT) thông qua cơ chế đầu tư của NSNN. Thứ ba: Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản [5] 1.
Chức năng, vai trò của thuế - Huy động tập trung nguồn lực tài chính: ngay từ khi ra đời, thuế có công dụng là phương tiện huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước. Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nước trong phát triển của xã hội. Về mặt lịch sử, chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đời của thuế. - Phân phối lại thu nhập và tài sản, góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân, các tầng lớp dân cư, điều hoà thu nhập và thực hiện công bằng xã hội: thuế được coi là công cụ để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội nhằm đạt mục tiêu công bằng xã hội.
Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về thuế suất đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong xã hội. 8 - Điều tiết vĩ mô nền kinh tế: thuế có thể được sử dụng như một công cụ góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, kích thích đầu tư tạo nền tảng cho sự phát triển. Nhà nước thông qua các chính sách thuế để tác động lên cung - cầu nhằm điều tiết, kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích xã hội. Khái quát về thuế giá trị gia tăng 1.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế giá trị gia tăng a. Khái niệm Thuế GTGT (hay còn gọi là VAT-Value Added Tax) được phát kiến bởi một người Đức tên là Carl Friedrich Von Simens vào đầu những năm 50 của thế kỷ 20, tuy nhiên tại thời điểm đó lý luận của ông không đủ sức thuyết phục Chính phủ Đức. Đến năm 1954 nước Pháp đã nghiên cứu và ứng dụng. Hiện nay đã có hơn 160 quốc gia áp dụng sắc thuế này.
Ở Châu Á khởi đầu là Hàn Quốc (năm 1977), Inđônêxia (năm 1984), Nhật bản(1988), Thái Lan (1992). Ở nước ta, Luật thuế giá trị gia tăng đầu tiên được ban hành năm 1997. Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. [4] Giá trị gia tăng = Tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra – Giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng.
Thực chất thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ. Tuy nhiên về bản chất, thuế GTGT khác với các loại thuế gián thu khác, điều này thể hiện qua các đặc điểm dưới đây của thuế GTGT. Đặc điểm - Thuế GTGT là một loại thuế gián thu: tính gián thu của thuế GTGT được biểu hiện ở việc người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau. Người mua hàng hóa, dịch vụ là người phải trả thuế GTGT thông qua giá mua của hàng hóa, dịch vụ.
Người bán hàng hóa, dịch vụ thực hiện nộp khoản thuế GTGT “đã được người mua trả” vào NSNN. 9 - Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp: thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. - Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao: tính trung lập biểu hiện ở hai khía cạnh.
Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của NNT, mà do NNT chỉ là người thay cho người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN mà thôi. Do vậy, thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ mà thôi. Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình SXKD, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng, bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. - Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập: thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng cuối cùng là người trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp.
Nếu cùng tiêu dùng cùng một sản phẩm đó với giá như nhau thì sẽ phải chịu thuế GTGT bằng nhau. Vì vậy, nếu so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thì người nào có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ này sẽ thấp hơn và ngược lại. - Thuế GTGT có tính lãnh thổ rõ rệt: thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Vai trò - Thuế GTGT là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, có tác dụng điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.
- Thuế GTGT giúp tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN. Hiện nay, ở Việt Nam thuế tiêu dùng (trong đó có thuế VAT) chiếm tỷ trọng khoảng 40% trong tổng thu ngân sách hàng năm. 10 - Thuế GTGT khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, phù hợp với phát triển nền kinh tế thị trường. - Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0%.
Doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu và còn được hoàn số thuế GTGT đầu vào đã thu ở khâu trước nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh về giá hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Tóm lại: Thuế GTGT là một sắc thuế tiên tiến; việc áp dụng thuế GTGT khắc phục nhược điểm của thuế doanh thu trước đây là “thuế chồng lên thuế” [5]; thuế GTGT có nhiều ưu điểm, tác dụng tích cực thúc đẩy tốc độ giao dịch, khuyến khích sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, tăng cường đầu tư, tăng thu cho NSNN. Đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Thông thường mỗi nước sẽ có những quy định riêng về một số chủng loại hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT.
Điều này phụ thuộc vào chính sách kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, phạm vi đối tượng chịu thuế GTGT rất rộng, bao gồm tất cả các hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế theo quy định của luật thuế GTGT hiện hành.