CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm, thuật ngữ liên quan về Thuế, doanh nghiệp nông nghiệp 1. Một số vấn đề cơ bản về Thuế 1.
Khái niệm về thuế Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Thuế là nguồn thu quan trọng, chủ yếu cho NSNN và là một trong những nhân tố quyết định đến sự ổn định, vững mạnh của Quốc gia. Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc được quy định bởi pháp luật của các tổ chức kinh tế và dân cư cho nhà nước. Mác đã viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước”- (Trích Mác- Ăngghen tuyển tập - Nhà xuất bản sự thật Hà Nội, 1961, tập 2).
Xét về nội dung vật chất, thuế là một bộ phận của cải xã hội được tập trung vào tay nhà nước mà thực chất của nó là sự di chuyển nguồn lực tài chính từ khu vực tư vào khu vực công. Xét về bản chất kinh tế, thuế là một phạm trù phân phối của cải xã hội chứa đựng quan hệ kinh tế - xã hội giữa các chủ thể trong xã hội. Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Trên góc độ của người nộp thuế: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định, đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Luan van 6 Trên góc độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuế theo nhận định trên nhiều phương diện khác nhau, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau: “Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng”. Đặc điểm của Thuế Thuế là một công cụ tài chính của nhà nước được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Khác với các công cụ tài chính khác như phí, lệ phí, giá cả… Thuế có các đặc điểm cơ bản sau đây: Một là thuế mang tính cưỡng bức bằng pháp luật luôn gắn liền với quyền lực nhà nước: Đặc điểm này gắn liền với tính pháp lý tối cao của thuế.
Thuế là nghĩa vụ cơ bản của Công dân đã được quy định trong hiến pháp - đạo luật gốc của một quốc gia. Miễn giảm thuế cũng do pháp luật quy định và ai vi phạm luật thuế sẽ bị pháp luật trừng trị. Hai là thuế là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng: sau khi Nhà nước thu thuế, thuế sẽ thuộc sở hữu của nhà nước, nhà nước không có nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp số thuế này cho người nộp thuế trong bất luận trường hợp nào. Tuy nhiên nhà nước sẽ hoàn trả gián tiếp bằng cách cung cấp các dịch vụ, hàng hoá công cộng cho toàn xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng trong đó có đối tượng nộp thuế.
Ba là thuế là một hình thức phân phối của cải xã hội chứa đựng yếu tố Luan van 7 chính trị - kinh tế - xã hội: Thuế và đánh thuế thực chất là nhà nước tham gia vào quá trình phân phối thu nhập của các thể nhân và pháp nhân nhằm tập trung một bộ phận của cải xã hội vào tay nhà nước, điều tiết hành vi của các thể nhân và pháp nhân. Thuế chứa đựng yếu tố chính trị đó là việc thu thuế và nộp thuế đều do nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của mình và chính sách thuế của một quốc gia luôn gắn liền với bản chất chính trị của quốc gia đó. Vai trò của Thuế trong nền kinh tế Vai trò của Thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế-xã hội nhất định. Trong nền kinh tế thị trường thuế phát huy 3 vai trò sau đây: Thứ nhất, Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước.
Sự vững mạnh của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài chính. Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước được đáp ứng thông qua các nguồn thu từ thuế, phí các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác. Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế có rất nhiều hạn chế và bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện. Một nền tài chính quốc gia lành mạnh cần xuất phát từ chính sức mạnh nội tại của nền kinh tế quốc dân.
Do đó, thuế được coi là khoản thu quan trọng, ổn định nhất được xây dựng trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm. Thứ hai, Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của nền kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu lớn của nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu sau: Phát triển sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa: Chính sách thuế được đặt ra không chỉ tăng thu cho ngân sách thông qua đó góp phần thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển Luan van 8 của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân. Đối với những ngành kinh tế cần phát triển nhà nước đánh thuế thấp hoặc không đánh thuế, ngược lại những ngành kinh tế không cần phát triển nhà nước đánh thuế cao hoặc không cho sản xuất thông qua việc cấp đăng ký kinh doanh.
Nhà nước dùng công cụ thuế để định hướng sản xuất thông qua thuế suất. Mục tiêu công bằng xã hội: Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, nhà nước đã sử dụng công cụ thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp với các loại thuế suất khác nhau nhằm điều tiết thu nhập của những đối tượng có thu nhập cao, làm tăng thu cho ngân sách nhà nước đồng thời thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá đảm bảo thực hiện mục tiêu công bằng xã hội. Mục tiêu điều chỉnh giá cả, chống lạm phát: Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng.
Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn định giá cả thị trường. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra khối lượng sản phẩm nhiều hơn. Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng Thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động. Trong luật thuế GTGT đối với mặt hàng thiết yếu thì thuế suất GTGT là 5%, hàng hoá xuất khẩu 0%, hàng hoá vật tư cần đưa vào lực lượng dự trữ quốc gia nhà nước sẽ đánh thuế thấp.
Thứ ba, Thuế góp phần thực hiện tốt pháp luật nhà nước: thông qua việc thu thuế và nộp thuế mà nhà nước có điều kiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh. Vai trò này được thể hiện trong quá trình tổ chức thực hiện đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan có liên quan phải bằng mọi cách và bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy Luan van 9 mô các cơ sở sản xuất kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng. Từ công tác quản lý thuế sẽ giúp họ phát hiện ra những khó khăn họ gặp phải để giúp họ tìm ra các giải pháp tháo gỡ đồng thời kịp thời phát hiện những hành vi gian lận thuế để có thể có biện pháp giáo dục kịp thời nhằm nâng cao ý thức pháp luật của mọi người dân. Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp 1.
Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh (Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014). Doanh nghiệp nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước.
Như vậy, doanh nghiệp nông nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp bao gồm các các doanh nghiệp sản xuất, chế biến hàng nông sản, cung cấp vật tư nông nghiệp, các sản phẩm, dịch vụ nông nghiệp ra thị trường… 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nông nghiệp.