CHƯƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Thuế GTGT và quản lý thuế giá trị gia tăng 1. Thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm Theo điều 2 Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03/06/2008 của Quốc hội khóa 12 quy định: “thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng”.
Nhƣ vậy có thể hiểu thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng hay có thể nói thuế giá trị gia tăng là một dạng của thuế bán hàng. Đây là một loại thuế gián thu, nghĩa là tiền thuế do ngƣời tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ đóng cho nhà nƣớc thông qua ngƣời bán hàng hóa và dịch vụ - nguời bán hàng hóa, dịch vụ chỉ là ngƣời nhận tiền thuế và có nghĩa vụ nộp đầy đủ kịp thời tiền thuế đã thu vào ngân sách nhà nƣớc Thuế giá trị gia tăng đƣợc phần lớn các nƣớc trên thế giới áp dụng từ rất lâu. Do có mục đích là một khoản thuế đối với hàng hóa tiêu thụ cuối cùng cho nên hàng xuất khẩu (theo định nghĩa này thì ngƣời tiêu dùng ở nƣớc ngoài) thƣờng không phải chịu thuế giá trị gia tăng hoặc cách khác thuế giá trị gia tăng đối với những hàng hóa đƣợc mua tiêu thụ tại nƣớc ngòai (nguời xuất khẩu) thì đƣợc hòan lại. Ở nƣớc ta, tại kì họp thứ 11 của quốc hội khóa IX đã thông qua luật thuế quan trọng này vào ngày 10/5/1997 và chính thức có hiệu lực thi hành từ 01/01/1999.
Từ đó đến nay do yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nƣớc nên Luật đã đƣợc sửa đổi bổ sung rất nhiều lần và gần đây nhất là Thông tƣ 28 ngày 28/02/2011 Theo đó, 6 thuế GTGT phải nộp là số chênh lệch giữa số thuế GTGT đầu ra với số thuế GTGT đầu vào. Cụ thể công thức tính thuế giá trị gia tăng nhƣ sau: Thuế GTGT Thuế GTGT Thuế GTGT đầu = - phải nộp đầu ra vào Trong đó, thuế GTGT đầu ra là số thuế tính trên tổng giá bán (chƣa bao gồm thuế GTGT) hàng hoá, dịch vụ bán ra trong kỳ. Thuế GTGT đầu ra đƣợc tính theo công thức sau: Thuế GTGT đầu ra = Giá tính thuế x Thuế suất Thuế GTGT đầu vào là số thuế GTGT đƣợc ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng hoá, dịch vụ hoặc trên chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu. Sự cần thiết của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT không chỉ thay thế cho các loại thuế doanh thu đã tồn tại mà còn tăng thu cho NSNN.
Việc áp dụng thuế GTGT đã chứng minh hiệu quả khá cao so với thuế doanh thu, đơn giản hóa việc đánh thuế theo hƣớng trung lập cao hơn, giảm bớt gánh nặng về thuế đối với các cơ sở kinh doanh. Thuế GTGT khắc phục đƣợc việc thu trùng lắp của thuế doanh thu, thuế GTGT không thu trên vốn đầu tƣ, do đó khuyến khích sản xuất kinh doanh và đầu tƣ. Đối với hàng xuất khẩu, các doanh nghiệp không phải nộp thuế GTGT, mặt khác lại đƣợc hoàn thuế GTGT đầu vào nên có điều kiện hạ giá bán, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế. Hơn thế nƣ̃a thuế GTGT b ảo đảm động viên số thu quan trọng và tƣơng đối ổn định cho NSNN và phải phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thuế GTGT đƣợc thu tập trung ngay ở khâu đầu tiên là khâu sản xuất hoặc khâu nhập khẩu hàng hóa và thu ở mỗi khâu đều có thể kiểm tra đƣợc việc thu nộp thuế ở khâu trƣớc vì vậy hạn chế thất thu thuế, đảm bảo động viên số thu quan trọng và tƣơng đối ổn định vào NSNN. Thuế GTGT đƣợc thực hiện thống nhất và chặt chẽ theo nguyên tắc căn cứ vào hóa đơn mua, bán hàng để tính thuế. Vì vậy, thuế 7 GTGT khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh khi mua hàng phải đòi hóa đơn, khi bán hàng phải xuất hóa đơn theo đúng quy định, đó chính là sự kỷ luật hóa đơn chứng từ. Thuế GTGT có phạm vi thu rất rộng, đối tƣợng thu là toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh, kể cả gia công, chế biến và hoạt động dịch vụ có thu tiền, thuế GTGT đánh vào các sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ trong nƣớc, kể cả hàng hóa nhập khẩu.
Ở nhiều nƣớc trên thế giới, thuế GTGT đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hệ thống thuế và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số thu của NSNN. Đây đƣợc coi nhƣ một loại thuế trung lập hữu hiệu chứ không phải nhằm điều chỉnh những chênh lệch về thu nhập hay tài sản nhƣ thuế TNCN, không có sự phân biệt thuế suất phức tạp nhƣ thuế TTĐB. Đặc điểm mà các sắc thuế khác không có là các đối tƣợng nộp thuế tự động kiểm soát lẫn nhau. Là vì mỗi đối tƣợng muốn khấu trừ số thuế GTGT trên số hàng mua và số thuế trên số hàng bán, phải chứng minh số mua và số thuế liên hệ.
Vì vậy đối tƣợng nộp thuế phải kiểm soát những nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ cho mình có khai nộp đầy đủ thuế GTGT không, bằng cách đòi hóa đơn chứng từ. Mối đối tƣợng nộp thuế sẽ tự động lƣu trữ hóa đơn chứng từ để kê khai khấu trừ và cơ quan thuế sẽ căn cứ vào đó để kiểm tra các tờ khai của nhà cung cấp. Việc hạch toán và kiểm soát thu thuế GTGT còn tƣơng đối phức tạp, bắt buộc phải có hóa đơn, chứng từ trong mua bán hàng hóa dịch vụ, phải theo dõi thuế đầu ra đầu vào, khấu trừ hoặc thoái trả thuế. Mặt khác thuế GTGT làm thay đổi thu NSNN ở các cấp ngân sách và giữa các địa phƣơng.
Thuế GTGT có ít thuế suất nên ngƣời tiêu dùng có thu nhập cao hay thấp đều phải nộp thuế nhƣ nhau, thuế mang tính lũy thoái nên thƣờng thiếu công bằng. Vì vậy thuế GTGT thƣờng phải kết hợp với các thuế khác. Phương pháp tính thuế GTGT Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất. Giá tính thuế đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chƣa có thuế GTGT (gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh đƣợc hƣởng).
8 Ví dụ nhƣ: Giá tính thuế đối với hàng hóa và dịch vụ là giá bán chƣa có thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu giá tính thuế là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) Luật thuế giá trị gia tăng của Việt Nam hiện nay quy định nhiề u mức thuế suất cho từng loại mặt hàng, nhƣng chủ yế u sƣ̉ du ̣ng các loa ̣i thuế suấlà: t 0%, 5%, 10%. Có hai phƣơng pháp tính thuế GTGT: + Phƣơng pháp khấu trừ thuế. + Phƣơng pháp tính trực tiếp trên GTGT. Phƣơng pháp tính trƣ̣c tiế p trên GTGT chỉ áp du ̣ng duy nhấ t cho hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý.
Cách xác định: Số thuế phải nộp = Giá trị gia tăng x Thuế suất thuế GTGT Vì tính hạn chế của phƣơng pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng nên trong luâ ̣n văn này tôi xin tâ ̣p trung nghiên cƣ́u phƣơng pháp khấ u trƣ̀ thuế. Phƣơng pháp khấu trừ thuế đƣợc áp dụng cho các cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu về mở và ghi sổ kế toán, chấp hành đầy đủ các quy định của chế độ hoá đơn, chứng từ bao gồm: các doanh nghiệp Nhà nƣớc, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, doanh nghiệp tƣ nhân, các Công ty cổ phần, hợp tác xã và các đơn vị tổ chức kinh doanh khác. Cơ sở kinh doanh đăng ký nộp thuế theo phƣơng pháp khấu trừ thuế phải sử dụng hoá đơn GTGT (trừ trƣờng hợp đƣợc dùng chứng từ ghi giá thanh toán đã có thuế GTGT). Trên hoá đơn GTGT phải ghi rõ: giá bán (chƣa có thuế GTGT), các khoản phụ thu, thuế GTGT và tổng số tiền phải thanh toán.
Trong đó số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng. Số thuế giá trị gia tăng đầu vào đƣợc khấu trừ bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa dịch vụ, chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng của hàng hóa nhập khẩu. 9 Phƣơng pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế tóan hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế tóan, hóa đơn, chứng từ và đăng kí nộp thuế theo phƣơng pháp khấu trừ thuế 1.2 Quản lý thuế giá trị gia tăng 1.1 Khái niệm Quản lý đƣợc hiểu là tổng hợp những phƣơng pháp để nắm bắt và điều hành đối tƣợng quản lý. Với ý nghĩa đó, quản lý có thể đuợc hiểu theo nhiều cách: Cấp trên quản lý cấp dƣới thông qua chính sách hoặc các biện pháp cụ thể: Đơn vị này quản lý đơn vị khác thông qua những chi phối đáng kể về quyền sở hữu và lợi ích tƣơng ứng.
Nội bộ đơn vị quản lý và kiểm tra lẫn nhau thông qua quy chế và các thủ tục định sẵn. Một cách chung nhất, quản lý là một quá trình định hƣớng và tổ chức thực hiện các mục tiêu đã định trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Quản lý thuế là thuật ngữ dùng để chỉ tổng thể các khâu lập pháp, hành pháp và tƣ pháp về thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nƣớc, thuộc lĩnh vực hành pháp và tƣ pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với chức năng nhiềm vụ và quyền hạn do luật định nhằm thực hiện chính sách thuế đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền thông qua. Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế thông qua sự tự giác của ngƣời nộp thuế và sự hỗ trợ của cơ quan thuế và các cơ quan nhà nuớc có liên quan.