CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GTGT VÀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT 1. Khái niệm, bản chất, chức năng của thuế a. Khái niệm Từ trước đến nay, trên thế giới vẫn chưa có sự thống nhất khái niệm về thuế.
Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này.Mác đã viết “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước” Ăng ghen cũng đã viết “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà nước, đó là thuế ”. Theo Benjamin Franklin, một trong những tác giả của bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của nước Mỹ đã đưa ra một lời tuyên bố bất hủ trong lịch sử thuế khoá: “Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế”. Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Theo từ điển tiếng Việt – Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp v.
buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định. Theo một số tài liệu viết về thuế thì: ”Thuế là khoản đóng góp bắt buộc được Nhà nước quy định để mọi người dân và các tổ chức kinh tế phải nộp cho Ngân sách Nhà nước.” Hoặc thuế là hình thức động viên, phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân do các cá nhân và các tổ chức kinh tế nộp cho Nhà nước hình thành các qũy tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. 4 Tuy các khái niệm về thuế của các nhà kinh tế có khác nhau nhưng đều thống nhất ở quan điểm thuế gắn liền với Nhà nước và đó là khoản đóng góp bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp. Từ việc phân tích những quan niệm về thuế có thể nhận thức chung về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, các nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Dù trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, nhưng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang được áp dụng phổ biến như sau: ”Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng. Bản chất của thuế Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế, người ta nhận thấy thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác như sau: Thứ nhất: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự.
Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của ngân sách nhà nước. Thứ hai: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp. Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn đúng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu từ công dân đó, như là khoản vay mượn. Nó sẽ được hoàn trả lại cho người nộp thuế thông qua cơ chế đầu tư của NSNN.
5 Thứ ba: Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản. Chức năng của thuế * Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Ngay từ khi ra đời thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước. Đây chính là vai trò truyền thống, căn bản của thuế. Người ta gọi công dụng này là chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế.
Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nước trong phát triển của xã hội. Về mặt lịch sử, chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân sự ra đời của thuế. * Điều tiết vĩ mô nền kinh tế Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế tự động xuất hiện trong quá trình thực hiện chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế. Thuế có thể được sử dụng như một công cụ góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, kích thích đầu tư tạo nền tảng cho sự phát triển Như vậy thông qua thuế Nhà nước điều tiết, kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích xã hội, tức là chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô đã được thực hiện.
Vai trò của thuế: * Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế. Nói thuế là nguồn thu chính vì thuế là nguồn thu bắt buộc của chính phủ đối với cá nhân hoặc pháp nhân khi phát sinh những hoạt động liên quan, 6 phải chuyển một phần thu nhập hoặc tài sản của mình thành nguồn thu của Nhà nước.
* Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân, các tầng lớp dân cư, điều hoà thu nhập và thực hiện công bằng xã hội Thuế được coi là công cụ để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội nhằm đạt mục tiêu công bằng xã hội. Thuế là công cụ để bảo hộ sản xuất nội địa và duy trì, tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế. Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về thuế suất đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong xã hội. Hệ thống thuế a.
Nhận thức về hệ thống thuế Hệ thống thuế là một khái niệm đang có nhiều quan niệm khác nhau. Quan niệm hệ thống thuế được thay đổi và phát triển theo tiến trình phát triển kinh tế xã hội. ”Hệ thống thuế là tổng hợp các loại thuế khác nhau với cơ chế hoạt động, đối tượng điều chỉnh, phương pháp đánh thuế, mức độ điều tiết và phương pháp thu nộp khác nhau. Các loại thuế có mối quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau nhằm thực hiện mục tiêu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước’.
Nhà kinh tế học Adam Smith (1723 - 1790). Trong tác phẩm “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của nhân loại” Ông đã vạch ra bốn nguyên tắc cơ bản xây dựng hệ thống thuế hợp lý: Thuế phải huy động phù hợp với khả năng và sức lực của dân cư; Mức thuế và thời hạn thanh toán phải được xác định chính xác; Thời gian thu thuế cần được quy định thuận lợi đối với người nộp thuế; Các chi phí để tổ chức thu nộp thuế cần phải thấp nhất. Tính chất hệ thống thuế - Tính hiệu quả kinh tế 7 Trong việc xem xét tính hiệu quả kinh tế của hệ thống thuế, người ta xem xét hệ thống thuế mang lại hiệu quả hay hậu quả cho nền kinh tế khi tồn tại các yếu tố và các mối quan hệ hiện hành. Tính hiệu quả của thuế thể hiện số thuế nộp vào NS ngày càng nhiều theo quy định của pháp luật.
Thể hiện tính hiệu quả hành chính của hệ thống thuế là số chi phí xã hội dùng để thu được một đồng tiền thuế là thấp nhất. - Tính linh hoạt Với mọi hệ thống, trong một môi trường thay đổi, hệ thống cũng thay đổi để thích ứng. Hệ thống thuế cũng có những diễn biến thay đổi nhất định khi môi trường kinh tế, chính trị, xã hội thay đổi. Trong việc thay đổi để thích ứng của hệ thống thuế có hai loại diễn biến thay đổi khác nhau: những thay đổi tự động trong hệ thống và những thay đổi mang tính chính trị.
- Tính minh bạch Một hệ thống thuế chính xác thể hiện sự rõ ràng và minh bạch. Tức là, hệ thống thuế trước hết phải chỉ rõ ai chịu thuế, mức thuế phải nộp và thời hạn nộp thuế. - Tính công bằng Tính công bằng là một đòi hỏi khách quan trong việc phân chia gánh nặng thuế cho các tầng lớp dân cư trong xã hội. Có công bằng thì việc nộp thuế mới trở thành niềm tự hào và không tác động tiêu cực đến các nỗ lực kinh doanh của công chúng.
Hệ thống chính sách thuế a. Khái niệm chính sách thuế Khi nói đến chính sách của một đất nước là nói về quan điểm, cách nhìn nhận chính thống của nhà nước đó về một lĩnh vực, một hoạt động trong một giai đoạn nhất định. Vì vậy, có thể khái quát khái niệm chính sách thuế như sau: 8 Chính sách thuế là tổng hợp các quan điểm chính thống của Nhà nước về các loại thuế trong một giai đoạn nhất định để sử dụng chức năng của thuế nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược chung của đất nước. Những yếu tố tác động đến chính sách thuế Hầu như tất cả các quốc gia đều quy định nghĩa vụ nộp thuế của công dân trong Hiến pháp của mình.
Vì vậy, thuế là nghĩa vụ bắt buộc của mọi công dân. Cũng như những chính sách kinh tế khác, chính sách thuế được ban hành dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, trong đó 3 yếu tố quan trọng nhất là: Chính trị, Kinh tế và Xã hội. Thuế giá trị gia tăng a. Khái niệm Thuế GTGT (hay còn gọi là VAT-Value Added Tax) được phát kiến bởi một người Đức tên là Carl Friedrich Von Simens vào đầu những năm năm mươi của thế kỷ 20 tuy nhiên tại thời điểm đó lý luận của ông không đủ sức thuyết phục Chính phủ Đức.
Đến năm 1954 nước Pháp đã nghiên cứu và ứng dụng.