CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỨC ĐỘ TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ THUẾ GTGT 1. Khái niệm thuế và bản chất của thuế 1. Khái niệm thuế Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, thuế là một khoản bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và không hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế và thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật (Lê Thị Thanh Hà và cộng sự 2007).
Theo OECD (1996), thuật ngữ “thuế” là những khoảniđóng gópibắt buộc, cóigiới hạnicho Chính phủ. Cácikhoản thuế đãinộp sẽ đượcihoàn trả tương ứng bằng những lợi ích do Chính phủimang lại vớiihình thứciđặc biệt. Thuế không bao gồm các khoảnitiền phạt liêniquan đến vi phạm về thuế và các khoản vay bắt buộc phải trả cho Nhà nước Tổng hợp các quan điểm trên thì thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của thể nhân và pháp nhân vào ngân sách Nhà nước với mục tiêu đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ cho xã hội, dịch vụ công cộng. Những quy định về thuế được Nhà nước ban hành thông qua các văn bản pháp luật, chính sách thuế và đó là công cụ điều tiết nền kinh tế của đất nước.
Do vậy, đóng thuế là nghĩa vụ bắt buộc mang tính cưỡng chế được Nhà nước quy định thông qua hệ thống luật pháp ở mỗi quốc gia. Bản chất của thuế Như đã trình bày, đóng thuế là nghĩa vụ bắt buộc đối với cả thể nhân và pháp nhân được quy định bằng hệ thống pháp luật của quốc gia. Phan Hiển Minh và cộng sự (2001) đã viết rằng thuế do giai cấp thống trị nắm giữ và đã tồn tại rất lâu từ thời nhà nước chiếm hữu nô lệ, tạo ra những mâu thuẫn xã hội. Vì vậy bản chất đầu tiên của thuế chính là sự cưỡng chế nguồn tài chính từ nhân dân được Nhà nước thực hiện.
Đặc tính thứ hai của thuế là không có sự tương thích giữa việc nộp thuế và lợi ích nhận được từ việc nộp thuế (Phan Hiển Minh và cộng sự 2001). Bởi lẽ, Chính phủ thu thuế để chi tiêu vào hàng hóa, dịch vụ công, trên thực tế mọi người đều nhận được những lợi ích 10 như nhau từ hoạt động công ích nhưng số thuế phải nộp là không giống nhau. Chính điều này làm nên sự khác biệt của thuế so với giá cả vì đối tượng phải chi trả cho những lợi ích từ hàng hóa, dịch vụ công mang lại và đối tượng có quyền quyết định thực hiện hoạt động công ích là hai chủ thể khác nhau. Tóm lại, thuế là một phạm trù liên quan đến Nhà nước và pháp luật, mang tính cưỡng chế; không có sự tương thích giữa số thuế phải nộp và lợi ích mang lại.
Do đó, việc thực hiện nghĩa vụ thuế thường ít khi mang tính tự nguyện cao. Chức năng của thuế Thuế có hai chức năng: thứ nhất là chức năng phân phối và phân phối lại, thứ hai là chức năng điều tiết nền kinh tế (Phan Hiển Minh và cộng sự 2001), cụ thể như sau: - Chức năng phân phối và phân phối lại là loại chức năng đặc thù, giúp hình thành các quỹ bằng tiền của Nhà nước, đảm bảo cho sự hoạt động và tồn tại của Nhà nước. Đó là sự huy động tiền từ cư dân vào NSNN. Số tiền này sau đó sẽ được Chính phủ chi tiêu vào các hoạt động công ích, phục vụ xã hội.
Đa phần thuế sẽ đánh trên hàng hóa và thu nhập nên người có thu nhập cao và chi tiêu cho nhiều hàng hóa hơn sẽ phải nộp thuế nhiều hơn. - Chức năng điều tiết nền kinh tế gắn liền với chức năng phân phối và phân phối lại. Đối với nền kinh tế thị phần, chính sách về thuế chính là công cụ mà Nhà nước có thể sử dụng để điều tiết vĩ mô kinh tế. Điều này được xuất phát từ chính chức năng điều chỉnh của thuế; từ lợi ích phố hội mà Nhà nước có thể thực hiện nâng cao giảm thuế đối với thu nhập của cá nhân, Tổ chức.
Giải pháp này nhằm mục đích kích thích hay tránh sự tăng trưởng của lĩnh vực chuyên ngành nghề khác nhau. Không những thế điều chỉnh chính sách thuế còn góp phần hình thành nên cơ cấu ngành nghề hợp lý theo đề xuất nền kinh tế trong từng giai đoạn tăng trưởng khác nhau. Căn cứ theo đấy, Nhà nước sẽ thực hiện các chính sách thuế để thúc đẩy sự phát triển ngành quan trọng hay giữ vị mũi nhọn then chốt hay điều tiết tốc độ phát triển giữa các đơn vị quản lý với nhau để san bằng thị phần kinh tế. Thuế đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, bởi mỗi sự thay đổi của thuế đều có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các chủ thể trong quá trình SXKD.
Do đó, Chính phủ 11 tất cả các nước rất chú trọng đến nguồn thu thuế và xem hệ thống thuế như là một công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm thuế GTGT Theo quan điểm chung của các quốc gia thì thuế GTGT là một loại thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh qua mỗi khâu của quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế được tính trên giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng.
Thuế GTGT do các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ nộp hộ người tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải trả cho người bán. Người tiêu dùng là người chịu thuế. Ở Việt Nam theo Điều 2, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 thuế GTGT được hiểu là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đặc điểm của thuế GTGT Bản chất của thuế GTGT là một loại thuế gián thu.
Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dùng mới là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ. Là một loại thuế độc lập nên thuế GTGT cũng có những đặc điểm riêng biệt để phân biệt với các loại thuế khác như sau: Thứ nhất, thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất lớn. Mọi đối tượng trong xã hội, kể cả cá nhân và tổ chức đều phải chi trả thu nhập của mình để hưởng thụ kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho xã hội. Tuy nhiên, thuế GTGT chỉ đánhivào hoạt độngitiêu dùngidiễn ra trong phạm viilãnh thổ, khôngiđánh vàoihành vi tiêuidùng ngoàiilãnh thổ.
Đặc điểm này tạo ra sựicông bằng tronginhững giao dịch quốcitế thông quaiviệc khôngithu thuếiđối với hàngihóa, dịch vụixuất khẩu vàiđánh thuếivới hàng hóa, dịchivụ nhậpikhẩu. Thứ hai, thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ không phải tính trên toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ làm cho số thuế GTGT áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng dịch vụ. 12 Thứ ba, tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên phần giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó để xác định được đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng trung gian.
Do vậy cứ có hàng vi muaihàng là phảiitính thuế. Số thuếiGTGT ở khâuitrước sẽ đượcitự độngichuyểnivào giá bán hàngiở khâu sauivà ngườiitiêu dùngicuối cùngisẽ phải trảitoàn bộisố thuế GTGT đánhitrên hàngihóa đó. Tổng sốithuế ngườiitiêu dùngicuối cùng phảiitrả bằngitổng số thuế phátisinh quaitừng giaiiđoạn củaiquá trìnhisản xuất, kinhidoanhihàng hóa, dịchivụ. Thứ tư, thuế GTGT có tính trung lập cao.
Thuế GTGTikhông chịuiảnh hưởngibởi kết quả kinh doanhicủa người nộpithuế vì ngườiinộp thuế chỉilà nộp hộingười tiêu dùngikhoản này vào ngânisách nhàinước. Do đó, thuế GTGT không phải làiyếu tố chi phíisản xuất của doanh nghiệp. Vai trò của thuế GTGT Thuế GTGT đóng vai trò rất quan trọng trong lưu thông hàng hóa và quản lý kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế nước nhà trên thị trường quốc tế. Cụ thể: Trong lưu thông hàng hóa: ● Nếu không có biến động về tài chính, tiền tệ, sản xuất và lưu thông giảm suất, yếu kém, kinh tế suy thoái và các nguyên nhân khác tác động thì việc áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu không ảnh hưởng đến giá sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh được thuế chồng lên thuế.
● Thuế VAT không phải là một nhân tố gây ra lạm phát, gây khó khăn trở ngại cho việc phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá. Việc áp dụng thuế GTGT góp phần ổn định giá cả, mở rộng lưu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu. Trong quản lý kinh tế nhà nước: ● Là nguồn thu lớn và khá ổn định cho ngân sách nhà nước. ● Làm tăng giá vốn của hàng hóa nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng trong nước.
● Tạo điều kiện tốt cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. 13 ● Góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Giới thiệu về tính thuế, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và hoàn thuế GTGT a. Cách tính thuế GTGT Có hai phương pháp tính thuế GTGT mà doanh nghiệp phải nộp: khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp.
⮚ Phương pháp khấu trừ thuế Theo Điều 12 Thông tư 219/2013/TT-BTC phương pháp khấu trừ được áp dụng với các đối tượng sau: ● Các cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hóa đơn, chứng từ.