phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn này gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thu thuế của Nhà nƣớc và sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nƣớc nhằm tăng cƣờng sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Trang 6 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ CỦA NHÀ NƢỚC 1.1 Tổng quan về thuế Thuế là một phạm trù kinh tế, đồng thời là một phạm trù lịch sử. Nó ra đời, tồn tại và phát triển cùng với Nhà nƣớc, gắn liền với mục tiêu, chức năng của Nhà nƣớc.
Thuế là một công cụ quan trọng mà Nhà nƣớc nào cũng sử dụng để thực hiện chức năng của mình. Theo quy định của pháp luật, Thuế là khoản nộp bắt buộc mang tính cƣỡng chế bằng pháp luật, mà các tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ nộp vào NSNN. Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về Thuế: - Theo Bách khoa toàn thƣ: “ Thuế là một phần trong thu nhập mà công dân, tổ chức kinh tế có nghĩa vụ nộp vào ngân sách Nhà nƣớc để chi tiêu cho việc chung hay thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (nhƣ giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội”. - Theo tác giả Nguyễn Thị Thủy giáo trình thuế của Trƣờng Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 viết “Thuế là nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước.
Nghĩa vụ này được thiết lập bởi pháp luật và đảm bảo thực thi bằng công cụ pháp luật. Nhà nước có “đặc quyền” thu thuế và ấn định nghĩa vụ nộp thuế của các chủ thể khác thông qua việc ban hành pháp luật thuế và tổ chức thực hiện pháp luật thuế” 1.1 Phân loại thuế Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, quản lý và tổ chức hành thu trong thực tế Nhà nƣớc tiến hành phân loại thuế theo một số tiêu thức nhất định, cụ thể nhƣ sau: 1.1 Phân loại theo tính chất kinh tế của thuế Theo cách phân loại truyền thống đã hình thành từ rất lâu, thuế đƣợc chia Trang 7 Luan van thành hai loại thuế trực thu và thuế gián thu. Sự phân loại này phụ thuộc vào đối tƣợng đánh thuế, mối quan hệ tƣơng hỗ giữa ngƣời nộp thuế với NN. Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp lên một khoản thu nhập (Tiền lƣơng, lợi nhuận, lợi tức…) hoặc tài sản (Nhà cửa, ruộng đất, xe ôtô, chứng khoán.) của ngƣời nộp thuế.
Thuế trực thu dễ gây ra tâm lý bất bình trong nhân dân vì nó vận hành, tồn tại thƣờng đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của ngƣời nộp thuế. Đối với Việt Nam, trong hệ thống thuế hiện hành các loại thuế sau đây đƣợc xem là thuế trực thu: Thuế TNDN, thuế TNCN, thuế TN, thuế SDĐNN, thuế SDĐPNN. Thuế gián thu là một loại thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ và đƣợc ấn định dƣới hình thức một khoản phụ thêm đƣợc cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ nhằm điều tiết một phần thu nhập của ngƣời tiêu dùng. Khi áp dụng hình thức thuế gián thu, mối quan hệ giữa ngƣời nộp thuế và Nhà nƣớc đƣợc thể hiện một cách gián tiếp, cụ thể nhƣ: Thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế XK, thuế NK… 1.2 Phân loại theo đối tượng đánh thuế - Thuế đánh vào hàng hóa: Là loại thuế gián thu, đánh trực tiếp vào giá trị của hàng hóa; là một bộ phận cấu thành nên giá cả của hàng hóa.
Sắc thuế phổ biến nhất là thuế TTĐB, thuế XK, thuế NK, thuế GTGT… - Thuế đánh vào thu nhập: Là loại thuế đánh trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu đƣợc của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân có thu nhập. Sắc thuế phổ biến nhất là thuế TNDN, thuế TNCN… - Thuế đánh vào tài sản: Là loại thuế đánh vào giá trị của tài sản nhƣ thuế tài sản, thuế nhà, thuế đất… - Thuế đánh vào tài sản thuộc sở hữu công cộng, sắc thuế phổ biến nhất là thuế TN, phí BVMT,…. Nhìn chung, trong hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau, nhƣng từng loại thuế phát huy vai trò điều tiết trong các lĩnh vực nhất định, song chúng vừa hỗ trợ, bổ sung cho nhau để đảm bảo thực hiện chức năng bao quát và toàn Trang 8 Luan van diện của hệ thống thuế.2 Vai trò của thuế Nhà nƣớc Sử dụng cơ chế thị trƣờng để giải quyết 3 vấn đề cơ bản của nền kinh tế (sản xuất cái gì, nhƣ thế nào, cho ai) là phát kiến vĩ đại của nhân loại, cơ chế thị trƣờng thông qua những yếu tố của nó đã tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, kích thích tăng năng suất lao động, nâng cao chất lƣợng hiệu quả, thúc đẩy quá trình sản xuất xã hội hóa sản xuất, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung hóa sản xuất. Bên cạnh những ƣu điểm đó, cơ chế thị trƣờng có nhƣợc điểm là gây cho xã hội những lãng phí về lao động, tài nguyên, vốn dẫn đến độc quyền, thủ tiêu cạnh tranh.
Với cơ chế phân phối qua thi trƣờng thƣờng khoét sâu hố ngăn cách giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo, tạo sự bất ổn định về kinh tế xã hội. Từ những ƣu, nhƣợc điểm đó cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nƣớc vào quá trình kinh tế - xã hội để phát huy những mặt tích cực của cơ chế thị trƣờng và hạn chế tối đa những nhƣợc điểm của chúng. Để quản lý, điều hành vĩ mô nền kinh tế xã hội, Nhà nƣớc sử dụng nhiều công cụ nhƣ: Kế hoạch hóa, pháp luật, các chính sách tài chính tiền tệ… Trong các công cụ trên thì chính sách tài chính tiền tệ đóng vai trò quan trọng nhất, trong đó thuế đƣợc Nhà nƣớc sử dụng nhƣ một công cụ tài chính để thực hiện vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc đều đƣợc đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác nhƣ: vay mƣợn, viện trợ nƣớc ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác,…Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện.
Do đó thuế đƣợc coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng.2 Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Chính sách thuế đƣợc đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho Trang 9 Luan van ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu thuế góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hƣớng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lƣu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hƣớng dẫn phát triển của kế hoạch Nhà nƣớc, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân. Mục tiêu của kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trọng tâm của mọi chính phủ. Sự thành công hay thất bại của việc quản lý Nhà nƣớc, nền kinh tế là giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô. Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện đại, ngƣời ta thƣờng xác định 04 mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô mà mọi chính phủ phải theo đuổi.
Bốn mục tiêu đó là: - Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế một cách hợp lý. - Tạo đƣợc công ăn việc làm đầy đủ cho ngƣời lao động. - Ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm phát. - Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Với 4 mục tiêu trên ta có thể thấy rõ Thuế là một công cụ hết sức quan trọng nhằm biến 4 mục tiêu đó thành hiện thực.3 Thuế góp phần thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội Kinh tế thị trƣờng làm tăng ra sự phân hóa giàu nghèo, sự phân hóa này có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế - xã hội. Do vậy, cần phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân hóa này, làm lành mạnh xã hội. Nhà nƣớc dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hóa công cộng. Thông qua thuế thu nhập, Nhà nƣớc thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lƣơng và thu nhập, hạn chế sự phân hóa giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội.
Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng. Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho ngƣời nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng đƣợc giảm bớt. Trái lại những mặt Trang 10 Luan van hàng xa xỉ, cao cấp, việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập của ngƣời giàu trong xã hội. Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trƣởng kinh tế của đất nƣớc.4 Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm Đây là công cụ quan trọng mà Nhà nƣớc sử dụng là chính sách thuế.
Nội dung điều tiết của thuế gồm hai mặt: Kích thích và hạn chế. Nhà nƣớc đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung – cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh – một đặc trƣng vốn có của nền kinh tế thị trƣờng. Khi nền kinh tế suy thoái: Nhà nƣớc điều chỉnh giảm thuế để kích thích đầu tƣ và tiêu dùng trong nền kinh tế nhƣ: giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với hàng sản xuất ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tƣ vào sản xuất, giảm thuế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích tiêu dùng.