Chương 1. Cơ sở lí luận về quản lý chuỗi cung ứng Chương 2. Thực trạng quản lý chuỗi cung ứng thiết bị y tế tại Công ty TNHH Thiết bị y tế Terumo Việt Nam Chương 3. Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý chuỗi cung ứng thiết bị y tế tại Công ty TNHH Thiết bị y tế Terumo Việt Nam 4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG 1.
Khái quát về quản lý chuỗi cung ứng 1. Khái niệm chuỗi cung ứng và quản lý chuỗi cung ứng 1. Khái niệm chuỗi cung ứng Thuật ngữ “Chuỗi cung ứng” xuất hiện từ cuối những năm 1980 và trở nên phổ biến hơn trong những năm 1990. Để cạnh tranh trong môi trường kinh doanh đầy biến động hiện nay, các doanh nghiệp cần phải tham gia cả vào các công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của họ.
Điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp cần quan tâm hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu, thiết kế cũng như đóng gói sản phẩm của nhà cung cấp, cách vận chuyển và bảo quản sản phẩm của nhà phân phối, nhà bán lẻ, hay nói cách khác là phải tích cực tham gia vào các chuỗi cung ứng. Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp, các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau đó được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian và cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng. Chuỗi cung ứng cũng được xem như mạng lưới logistics, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, và các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở. Một cách chung nhất, chuỗi cung ứng là một thuật ngữ kinh tế mô tả đơn giản sự liên kết của nhiều doanh nghiệp để cung ứng hàng hóa và dịch vụ đáp ứng cho một loại nhu cầu nào đó của khách hàng trên thị trường.
Chuỗi bao gồm tất cả hoạt động (của các tổ chức) trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng về một loại hàng hóa nhất định. Những khái niệm về chuỗi cung ứng cũng rất đa dạng và phong phú. Có thể kể đến một số định nghĩa về chuỗi cung ứng như sau: Từ góc độ học thuật, khái niệm khá phổ biến của Christopher (2005) cho rằng: “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các tổ chức có mối quan hệ với nhau thông qua các liên kết xuôi và ngược, bao gồm các quá trình và hoạt động khác nhau để tạo nên giá trị cho sản phẩm hoặc dịch vụ và được đưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng”. (2005), Logistics and Supply Chain Management, Creating Value-adding Networks, Prentice Hall.
Thư viện ĐH Thăng Long 5 Học giả Lambert và các cộng sự (1998) thì định nghĩa: “Chuỗi cung ứng không chỉ là một chuỗi của các doanh nghiệp với nhau, mà còn là mối quan hệ thương mại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp và với thị trường”.2 Theo Govil và Proth (2002), “Chuỗi cung ứng là một hệ thống các tổ chức, con người, thông tin, hoạt động và các nguồn lực liên quan tới công tác chuyển sản phẩm/dịch vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng với mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của khách hàng”.3 Một khái niệm khác về chuỗi cung ứng đó là: “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp mà còn bao gồm cả nhà vận chuyển, kho bãi, người bán lẻ và bản thân khách hàng”.4 Tuy có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về chuỗi cung ứng, nhưng qua các khái niệm và quan điểm nêu trên có thể thấy: chuỗi cung ứng bao gồm những vấn đề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp từ một hay nhiều nhà cung ứng đến khách hàng và khách hàng luôn là yếu tố quyết định của chuỗi cung ứng. Mục tiêu mà một chuỗi cung ứng hướng tới là việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính nó. Hoạt động của chuỗi cung ứng bắt đầu với một yêu cầu của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ.
Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải tiến mức độ phục vụ thì các chiến lược chuỗi cung ứng hiệu quả phải xem xét đến sự tương tác với khách hàng ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng. Như vậy khái niệm tổng quát và đầy đủ nhất về chuỗi cung ứng là “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng”. Theo khái niệm này, chuỗi cung ứng bao gồm nhiều thành viên, trong đó có các thành viên cơ bản như nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ, họ sở hữu và tham gia trực tiếp vào quá trình chuyển đổi, phân phối dòng vật chất từ các nguyên liệu thô ban đầu thành thành phẩm và đưa tới thị trường. Các quá trình này tập trung chủ yếu vào các hoạt động biến đổi (tạo ra) các nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, bán thành phẩm thành sản phẩm/dịch vụ hoàn chỉnh và đưa tới (duy trì và phân phối) người tiêu dùng cuối cùng.
Đồng thời chuỗi cung ứng cũng bao gồm cả các doanh nghiệp hỗ trợ cho các hoạt động và quá trình trên như công ty vận tải, kho bãi, các nhà cung cấp dịch vụ bảo 2 Lambert, D. (2012), “Supplier relationship management as a macro business process”, Supply Chain Management. (2002) Supply Chain Design & Management - Strategic & Tactical Perspectives, Academic Press 4 Chopra, S. (2013) Supply Chain Management - Strategy, planning and operation, Pearson Education 6 hiểm, ngân hàng, thông tin… Họ tham gia gián tiếp vào chuỗi cung ứng với vai trò là các công ty bên thứ 3, giúp làm tăng tính chuyên môn hóa cũng như hiệu quả trong các chuỗi cung ứng.
Mỗi chuỗi cung ứng gắn liền với một loại sản phẩm và một thị trường mục tiêu cụ thể, đồng thời vận hành như một thực thể độc lập để đáp ứng nhu cầu thị trường và mang lại lợi ích tổng thể cho mọi thành viên trong chuỗi. Về cơ bản các thành viên chuỗi cung ứng là các tổ chức kinh doanh độc lập, do đó để tạo ra sự thống nhất họ liên kết với nhau bằng nhiều dòng chảy và các mối quan hệ, từ đơn giản đến phức tạp, từ trực tiếp và gián tiếp. Có 3 dòng chảy chính là dòng vật chất, dòng tài chính và dòng thông tin. Dòng vật chất: Con đường dịch chuyển của vật liệu, bán thành phẩm, hàng hoá và dịch vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng, đảm bảo đúng và đủ về số lượng cũng như chất lượng.
Dòng tài chính: Thể hiện các hoạt động thanh toán của khách hàng với nhà cung cấp, bao gồm các giao dịch tín dụng, các quá trình thanh toán và ủy thác, các dàn xếp về trao đổi quyền sở hữu. Dòng thông tin: Dòng giao và nhận của các đơn đặt hàng, theo dõi quá trình dịch chuyển của hàng hoá, chứng từ giữa người gửi và người nhận, thể hiện sự trao đổi thông tin hai chiều và đa chiều giữa các thành viên, kết nối các nguồn lực tham gia chuỗi cung ứng, giúp chuỗi cung ứng vận hành một cách hiệu quả. Lịch sử phát triển của chuỗi cung ứng Từ thời cổ đại, trong các cuộc chiến tranh của đế chế Hy Lạp và La Mã, Alexander đại đế luôn tiến hành các chiến dịch dựa vào khả năng đặc biệt của quân đội của ông, và những điều này được thực hiện bởi việc quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả. Các tác giả thời Hy Lạp và La Mã chỉ ghi chép lại những công trạng của ông mà rất ít đề cập về việc làm thế nào Alexander đảm bảo nguồn cung cho binh sĩ của mình.
Nhưng cũng từ những tài liệu này, nhiều chi tiết vụn vặt cũng được ghép lại với nhau để cho thấy bức trang về chuỗi cung ứng tổng thể của Alexander, trả lời cho câu hỏi làm thế nào vị hoàng đế trẻ tuổi có thể quản lý chúng. Một nhà sử học hiện đại, Donald Engels, đã nghiên cứu chủ đề này trong cuốn sách của ông: Alexander Đại Đế và hoạt động hậu cần của quân đội Macedonia cổ đại. Quân đội của Alexander có thể đạt được những thành công huy hoàng là bởi họ có thể quản lý chuỗi cung ứng rất tốt. Quân đội của Alexander có một cấu trúc hậu cần hoàn toàn khác với những đội quân cùng thời.
Ở những đội quân khác, số phu dịch đi theo phục vụ thường nhiều không kém số binh lính thực chiến, bởi vì đội quân phải di chuyển cùng một số lượng lớn gia súc và xe thồ để mang theo trang thiết bị, nhu yếu phẩm cũng như Thư viện ĐH Thăng Long 7 con người để quản lý chúng. Trong đội quân của Macedonia, việc sử dụng xe thồ bị hạn chế nghiêm ngặt. Các chiến binh được huấn luyện để tự mang theo trang thiết bị và nhu yếu phẩm. Công việc này là một nhân tố quyết định sự thắng lợi của cuộc chiến, khi mỗi bên đều tìm cách bảo vệ nguồn tiếp viện của mình và phá hủy nguồn cung ứng của đối phương.
Cấu trúc hậu cần mới của quân đội Macedonia khiến cho họ trở thành đội quân nhanh nhẹn, tinh gọn và cơ động nhất của thời kỳ đó. Họ có thể thực hiện những cuộc tấn công chớp nhoáng trước khi kẻ địch nhận ra điều gì đang diễn ra. Bởi vì binh lính của Alexander có thể di chuyển nhanh nên ông có thể tận dụng khả năng này để sử dụng những chiến thuật bất ngờ và chiếm ưu thế dù đối phương hơn hẳn về số lượng. Đây có thể coi là bước đánh dấu cho sự ra đời của chuỗi cung ứng nguyên thủy.
Cho đến trước cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên diễn ra vào khoảng 1784 đến khoảng 1840, phần lớn chuỗi cung ứng mang tính địa phương và thường hạn chế ở một số khu vực đơn lẻ. Sau đó đường sắt được đưa vào sử dụng và phát triển giúp cho việc vận chuyển hàng hóa trở nên nhanh hơn, dễ dàng và khoảng cách phân phối cũng xa hơn. Đến những năm 1900, trước chiến tranh thế giới thứ II, các công ty hoạt động nhờ vào chuỗi liên kết đơn giản, một chiều từ nhà sản xuất đến kho, tới nhà phân phối sỉ, lẻ và cuối cùng là người tiêu dùng.