Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh doanh Thương mại (mã số 62340121) của nghiên cứu sinh Trần Thị Thu Hương, bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Thương mại dưới sự hướng dẫn khoa học của TS An Thị Thanh Nhàn và TS Lục Thị Thu Hường, nghiên cứu về đề tài "Phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa Việt Nam".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại Việt Nam đạt khoảng 28 triệu tấn/năm với tốc độ gia tăng 10%/năm. Tỷ lệ thu gom chất thải đạt 83% - 85% ở khu vực đô thị và 40% - 50% ở nông thôn, nhưng tỷ lệ tái chế và tái sử dụng chỉ đạt 10% - 12%. Trong ngành nhựa, tốc độ tăng trưởng sản xuất giai đoạn 2010 - 2015 đạt 16% - 18%/năm. Mức tiêu thụ nhựa bình quân tăng từ 30 kg/người năm 2010 lên 35 kg/người năm 2015 và ước tính đạt 45 kg/người năm 2020. Kim ngạch xuất khẩu ngành nhựa năm 2017 vượt 2,5 tỷ USD và dự báo đạt 4,3 tỷ USD năm 2020. Tuy nhiên, ngành nhựa Việt Nam phụ thuộc từ 70% - 80% vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu (nhu cầu hàng năm khoảng 3,5 triệu tấn nhưng nguồn nội địa chỉ đáp ứng 900.000 tấn; dự báo đến năm 2020 cần 5 triệu tấn). Trong khi tỷ lệ thu hồi sản phẩm nhựa tại châu Âu đạt bình quân 54% (Thụy Sĩ 99,7%, Đức 96,7%, Đan Mạch 96,6%, Hà Lan 89,2%), hoạt động này tại Việt Nam chủ yếu mang tính tự phát. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: chưa có công trình nào tiếp cận logistics ngược như một đối tượng nghiên cứu độc lập trong toàn bộ chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa tại Việt Nam.
Mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chung của luận án là xác lập cơ sở khoa học về lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất giải pháp phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2025. Để đạt mục tiêu này, luận án xác định ba nhiệm vụ và hệ thống câu hỏi nghiên cứu tương ứng:
- Nhiệm vụ 1: Thiết lập hệ thống cơ sở lý luận về phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm. Hệ thống câu hỏi gồm:
- Phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm là gì?
- Phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm bao gồm những nội dung nào?
- Đo lường mức độ phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm như thế nào?
- Nhiệm vụ 2: Khảo sát, đo lường và đánh giá thực trạng phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa Việt Nam. Hệ thống câu hỏi gồm:
- Các thành viên trong chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa Việt Nam đang tổ chức, triển khai các dòng và các hoạt động logistics ngược như thế nào?
- Các yếu tố môi trường có tác động như thế nào đến phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa Việt Nam?
- Nhiệm vụ 3: Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển logistics ngược cho chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa Việt Nam. Hệ thống câu hỏi gồm:
- Mô hình logistics ngược nào thích hợp cho chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa Việt Nam?
- Để phát triển được mô hình logistics ngược này, chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp thành viên cần thực hiện những giải pháp gì?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa Việt Nam. Chủ thể thực hiện gồm các thành viên chuỗi (nhà cung cấp nguyên liệu, nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ, nhà cung cấp dịch vụ logistics, cơ sở tái chế) và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan. Luận án không khảo sát trực tiếp người tiêu dùng cá nhân.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu đối tượng, quy trình, 5 dòng logistics ngược; trách nhiệm của các thành viên chuỗi; các nhân tố ảnh hưởng và mô hình quản lý dòng logistics ngược.
- Phạm vi dòng vật chất: Chỉ tập trung vào chất thải thể rắn phát sinh từ sản xuất và tiêu dùng sản phẩm nhựa từ hạt nhựa; loại trừ chất thải thể lỏng, khí và các hóa chất phụ gia.
- Phạm vi thị trường: Chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa tiêu thụ tại thị trường nội địa Việt Nam (loại trừ hàng xuất khẩu).
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 5 địa bàn tập trung hơn 80% doanh nghiệp ngành nhựa: Hà Nội, Hưng Yên, Đà Nẵng, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2013 - 2018 (5 năm); đề xuất giải pháp đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng trên thế giới
- Các nghiên cứu lý thuyết nền tảng về logistics ngược: Khái niệm quản lý thu hồi được thảo luận ban đầu bởi Beckley và Logan (1948), Terry (1967), Guiltinan và Nwokoye (1975). Thuật ngữ "phân phối ngược" được sử dụng bởi Murphy và Poist (1989), Barry và cộng sự (1993), Carter và Ellram (1998). Hội đồng Quản trị Logistics Hoa Kỳ (CLM) xuất bản hai công trình của Stock (1992) và Kopicki cùng cộng sự (1993). Thierry và cộng sự (1995) đưa ra khái niệm Quản lý thu hồi sản phẩm (Product Recovery Management - PRM). Kroon và Vrijens (1995) gắn logistics ngược với quản lý chất thải; Rogers và Tibben-Lembke (1999) định nghĩa logistics ngược là quá trình di chuyển hàng hóa từ điểm tiêu dùng để phục hồi giá trị hoặc tiêu hủy hợp lý; Dowlatshahi (2000) tiếp cận dưới góc độ nhà sản xuất tiếp nhận sản phẩm và chi tiết để tái chế, tái sản xuất. Sự khác biệt giữa logistics ngược và xuôi được phân tích bởi Guide và cộng sự (1996, 2000), Fleischmann và cộng sự (1997, 2001, 2004), Brito và Dekker (2002), Vahabzadeh và Yusuff (2015). Động lực và rào cản logistics ngược được kiểm chứng bởi Roy (2003), Akdogan và Coskun (2012), Zhu và Sarkis (2008), Verstrepen và cộng sự (2007), Lau và Wang (2009), Xiaoming và cộng sự (2008), Ravi và Shankar (2005).
- Logistics ngược trong chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng vòng kín: Mô hình SCOR của Hội đồng Chuỗi cung ứng (SCC, 1994) xác định thu hồi (Return) là quy trình thứ 5. Diễn đàn Chuỗi cung ứng Toàn cầu (GSCF, Lambert và cộng sự, 1999) đưa quy trình thu hồi vào 8 quy trình kinh doanh cốt lõi. Fleischmann (2000, 2004) mô hình hóa 5 dòng logistics ngược. Guide và Wassenhove (2002) cùng Prahinski và Kocabasoglu (2005) định hình lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng ngược. Chuỗi cung ứng vòng kín (CLSC) được nghiên cứu bởi Krikke và cộng sự (2004), Min và cộng sự (2006), Jisoo Oh và Yonglian Li (2014) chuyển dịch tư duy từ "Cradle-to-Grave" sang "Cradle-to-Cradle".
- Logistics ngược trong ngành nhựa: Pohlen và Farris (1992) nghiên cứu kênh logistics ngược trong tái chế nhựa tại bang Ohio thông qua phỏng vấn sâu cơ quan quản lý và các doanh nghiệp tái chế. Graczyk và Witkowski (2011) nghiên cứu cân đối kinh tế và môi trường trong các chuỗi cung ứng nhựa tại châu Âu.
- Nghiên cứu về logistics ngược tại Việt Nam: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào chất thải rắn tổng quát. Ba công trình công bố quốc tế nghiên cứu trực tiếp tại Việt Nam gồm: MORNE (2008) về mô hình thu hồi pin đã qua sử dụng; Đỗ Ngọc Quang (2008) về hệ thống tái chế chất thải điện tử gia dụng; Pfohl và Nguyễn Thị Vân Hà (2011) về logistics ngược trong ngành điện tử Việt Nam (khảo sát 4 doanh nghiệp và 181 hộ gia đình).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trên thế giới đã xây dựng hệ thống lý thuyết về logistics ngược nhưng chưa phân tích sâu logistics ngược như một đối tượng độc lập trong chuỗi cung ứng ngành nhựa. Tại Việt Nam, các nghiên cứu chưa đi sâu vào ngành nhựa mà chỉ dừng ở chất thải điện tử và pin. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách hệ thống hóa lý thuyết phát triển logistics ngược trong mối quan hệ cộng tác giữa các thành viên chuỗi cung ứng sản phẩm, áp dụng khảo sát thực nghiệm đối với chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Tác giả đề xuất định nghĩa: "Logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm là hoạt động logistics nhằm quản lý dòng vận động ngược chiều của các đối tượng vật chất được gửi từ một thành viên tới thành viên bất kỳ đứng trước nó trong chuỗi cung ứng nhằm khôi phục lại giá trị sản phẩm và giảm lượng chất thải phải xử lý."
Theo tác giả, "Phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm là sự hoàn thiện về tổ chức logistics ngược giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng và gia tăng các dòng và các hoạt động logistics ngược nhằm tối ưu hoá quá trình vận động ngược chiều của các đối tượng vật chất được gửi từ một thành viên tới thành viên bất kỳ đứng trước nó trong chuỗi cung ứng." Ba nội dung cốt lõi gồm:
- Phát triển tổ chức logistics ngược: Lựa chọn phương án tự tổ chức (In-house) hoặc thuê ngoài (Outsourcing); lựa chọn cấu trúc tập trung hoặc phân cấp; thiết lập cơ chế cộng tác và phân định trách nhiệm thành viên chuỗi.
- Phát triển các dòng logistics ngược: Mở rộng từ thu hồi sản phẩm hỏng do lỗi sang 5 dòng vật chất: sản phẩm không phù hợp/hỏng trả lại, sản phẩm bảo hành sửa chữa, phụ phẩm/phế phẩm sản xuất, sản phẩm kết thúc sử dụng, và bao bì sản phẩm (Fleischmann và cộng sự, 2004).
- Phát triển các hoạt động logistics ngược: Hoàn thiện các tác nghiệp tập hợp, vận chuyển, dự trữ, kiểm tra, phân loại và gia tăng tỷ trọng xử lý phục hồi giá trị (tái sử dụng, tái chế, tân trang) thay vì tiêu hủy, chôn lấp.
Bảng so sánh đặc trưng kỹ thuật giữa logistics xuôi và logistics ngược tổng hợp trong luận án:
| Tiêu chí so sánh |
Logistics xuôi |
Logistics ngược |
| Cơ chế điều khiển |
Cơ chế kéo (theo nhu cầu khách hàng) |
Cơ chế đẩy (bởi sản phẩm phát sinh thu hồi) |
| Hướng di chuyển |
Hội tụ (đầu vào) và phân kỳ (phân phối) |
Dòng hội tụ từ nhiều điểm về một điểm xử lý |
| Mục tiêu ưu tiên |
Tốc độ đáp ứng đơn hàng |
Khả năng phục hồi giá trị sản phẩm |
| Khả năng dự báo |
Tương đối dễ dự báo |
Khó khăn do tính bất định về thời gian, số lượng |
| Chất lượng, bao bì |
Đồng nhất, bao bì tiêu chuẩn |
Không đồng nhất, bao bì hỏng hoặc không có |
| Quy trình vận hành |
Mua hàng, hỗ trợ sản xuất, phân phối |
Tập hợp, phân loại, kiểm tra, xử lý, phân phối lại |
| Thành viên tham gia |
Nhà cung cấp, nhà sản xuất, phân phối, bán lẻ |
Bổ sung người thu mua, tháo dỡ, tái chế, xử lý rác |
| Chi phí vận hành |
Chi phí xác định rõ ràng, tối ưu theo quy mô |
Khó dự tính, chi phí đơn vị thường cao hơn |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng qua hai nguồn dữ liệu:
- Thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu ngành nhựa từ Quy hoạch phát triển ngành nhựa của Bộ Công Thương, Báo cáo thường niên và Niên giám Nhựa Việt Nam (2013 - 2017) của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), dữ liệu quản lý chất thải rắn từ Báo cáo Môi trường Quốc gia và địa phương.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp định tính: Phỏng vấn chuyên sâu thực hiện vào tháng 5/2017 với 5 cá nhân: 2 cán bộ lãnh đạo Công ty Cổ phần Nhựa Hà Nội (HPC), 2 cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp tái chế (Công ty TNHH Tấn Tài), và Tổng thư ký Hiệp hội Nhựa Việt Nam. Dữ liệu này dùng để thiết kế tình huống nghiên cứu điển hình và hoàn thiện phiếu điều tra.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp định lượng: Khảo sát bằng bảng hỏi từ ngày 15/6 đến 31/7/2017 tại 5 tỉnh/thành phố (Hà Nội, Hưng Yên, Đà Nẵng, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh) trên tổng thể 2.200 doanh nghiệp. Khảo sát 2 nhóm mẫu: doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhựa và cơ sở tái chế nhựa; thu về 218 phiếu hợp lệ.
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để thực hiện thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), ma trận tương quan Pearson và mô hình hồi quy tuyến tính bội để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển logistics ngược.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu luận án
Chương 1 trình bày bối cảnh thực tiễn của sự gia tăng chất thải rắn, áp lực nguyên liệu sản xuất của ngành nhựa và khoảng trống nghiên cứu logistics ngược tại Việt Nam. Tác giả xác lập hệ thống mục tiêu, 3 nhóm câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi không gian (5 tỉnh/thành phố), thời gian (2013 - 2018), đối tượng vật chất (chất thải thể rắn từ nhựa). Chương này cũng minh họa quy trình nghiên cứu khoa học gồm 7 bước từ phát hiện vấn đề, hệ thống hóa lý luận, thiết kế công cụ điều tra, thu thập phân tích dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đến xây dựng các giải pháp khả thi.
Chương 2: Một số lý luận chủ yếu về phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm
Chương 2 hoàn thiện hệ thống lý thuyết về logistics ngược và chuỗi cung ứng vòng kín. Tác giả phân tích sự chuyển dịch từ chuỗi cung ứng truyền thống "Cradle-to-Grave" sang chuỗi cung ứng vòng kín "Cradle-to-Cradle" theo Jisoo Oh và Yonglian Li (2014) trên 5 khía cạnh: mục tiêu cân bằng kinh tế - môi trường, cấu trúc quản lý môi trường bắt buộc, mô hình kinh doanh carbon thấp, quá trình phục hồi tuần hoàn và mô hình tiêu dùng bền vững. Chương làm rõ 2 phương thức tổ chức: tự thực hiện (In-house) và thuê ngoài (Outsourcing), cùng cấu trúc tổ chức tập trung hoặc phân cấp. Luận án phân tích chi tiết 5 dòng logistics ngược, các hoạt động cơ bản (tập hợp, vận chuyển, lưu kho, phân loại, phục hồi, tiêu hủy), bảng so sánh chi phí logistics xuôi và ngược theo Rogers và Tibben-Lembke (2002). Đồng thời, chương 2 tổng kết kinh nghiệm phát triển hệ thống thu hồi rác thải nhựa tại châu Âu, hệ thống logistics ngược rác thải điện tử tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan để rút ra bài học cho Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa Việt Nam
Chương 3 khái quát mạng lưới chuỗi cung ứng ngành nhựa Việt Nam: cơ cấu doanh nghiệp theo địa lý (tập trung chủ yếu ở miền Nam và miền Bắc), nhập khẩu nguyên liệu (chiếm 70% - 80% từ các thị trường Ả Rập Xê Út, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan) và thị trường xuất khẩu (Mỹ, Nhật Bản, EU). Hệ thống thu gom chất thải rắn tại Việt Nam tồn tại hai phân hệ: chính thức (các công ty môi trường đô thị nhà nước, tỷ lệ tái chế thấp) và phi chính thức (hệ thống người thu gom ve chai, đồng nát, cơ sở phế liệu tư nhân và các làng nghề tái chế như Minh Khai - Hưng Yên, Triều Khúc - Hà Nội).
Qua nghiên cứu trường hợp tại Công ty Cổ phần Nhựa Hà Nội (HPC) và Công ty TNHH Tấn Tài, kết hợp điều tra 218 phiếu khảo sát, tác giả chỉ ra:
- Tổ chức logistics ngược: Phần lớn các doanh nghiệp tự tổ chức logistics ngược đối với sản phẩm lỗi và phế phẩm nội bộ; mức độ thuê ngoài dịch vụ logistics ngược bên thứ ba còn thấp; thiếu sự liên kết tổ chức và chia sẻ thông tin giữa nhà sản xuất nhựa với các đơn vị tái chế.
- Các dòng logistics ngược: Hoạt động thu hồi tập trung chủ yếu vào dòng sản phẩm không phù hợp và phế phẩm nội bộ nhà máy; dòng sản phẩm kết thúc sử dụng (End-of-Life) từ người tiêu dùng gần như phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống thu gom phi chính thức, tỷ lệ thất thoát chôn lấp cao.
- Phân tích định lượng nhân tố ảnh hưởng: Sử dụng SPSS 20.0 để đánh giá các thang đo bằng Cronbach's Alpha, phân tích EFA và hồi quy đa biến. Kết quả hồi quy xác nhận các yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến kết quả phát triển logistics ngược gồm: Nhận thức của nhà quản trị doanh nghiệp, Áp lực từ quy định pháp luật và chính sách môi trường, Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, Năng lực cơ sở hạ tầng - công nghệ kỹ thuật, và Mức độ cộng tác liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng.
- Đánh giá tổng quát: Luận án chỉ ra điểm yếu căn bản là hoạt động thu gom tái chế nhựa tại Việt Nam còn manh mún, công nghệ thô sơ gây ô nhiễm thứ cấp, thiếu chuỗi cung ứng vòng kín chính thức kết nối giữa nhà sản xuất và cơ sở tái chế.
Chương 4: Giải pháp phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa Việt Nam
Dựa trên dự báo nhu cầu nguyên liệu nhựa đến năm 2020 đạt 5 triệu tấn, chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm và nguyên tắc phát triển logistics ngược:
- Đề xuất mô hình tổ chức logistics ngược chính thức cho toàn chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa: Thiết lập mối liên kết chính thức giữa nhà sản xuất, nhà bán lẻ, các đơn vị thu gom chuyên nghiệp và cơ sở tái chế tập trung; đưa ra quy trình ra quyết định lựa chọn tự tổ chức hay thuê ngoài dịch vụ logistics ngược tại doanh nghiệp.
- Xác lập vai trò của Quỹ Tái chế Nhựa: Cơ quan điều phối tài chính nhằm hỗ trợ chi phí thu gom, trợ cấp công nghệ xử lý và kết nối dữ liệu dòng phế liệu giữa các địa phương.
- Phát triển các dòng logistics ngược: Thiết lập quy trình thu hồi khép kín cho phế phẩm sản xuất, phụ phẩm công nghiệp; xây dựng hệ thống thu đổi bao bì nhựa và điểm tiếp nhận sản phẩm nhựa sau tiêu dùng tại các kênh phân phối bán lẻ.
- Chuẩn hóa quy trình tác nghiệp và áp dụng mô hình kim tự tháp xử lý chất thải: Ưu tiên theo thứ bậc: Giảm thiểu tại nguồn (Reduce) -> Tái sử dụng (Reuse) -> Tái chế cơ học/hóa học (Recycle) -> Thu hồi năng lượng (Recovery) -> Tiêu hủy/chôn lấp hợp vệ sinh (Disposal).
- Kiến nghị chính sách vĩ mô: Đề xuất Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương và Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) hoàn thiện khung pháp lý về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), quy chuẩn hóa kỹ thuật tái chế và xây dựng các khu công nghiệp xử lý chất thải nhựa tập trung.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về phát triển logistics ngược dưới góc độ là một đối tượng nghiên cứu độc lập đặt trong cấu trúc chuỗi cung ứng sản phẩm.
- Xây dựng khái niệm phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm và xác lập khung nội dung phát triển gồm ba trụ cột: tổ chức logistics ngược, các dòng logistics ngược và các hoạt động logistics ngược.
- Hệ thống hóa mô hình chuỗi cung ứng vòng kín và lượng hóa các nhân tố cấu thành môi trường ảnh hưởng đến kết quả phát triển logistics ngược tại thị trường đang phát triển.
Đóng góp về thực tiễn
- Phản ánh bức tranh thực trạng tổ chức và vận hành logistics ngược ngành nhựa Việt Nam giai đoạn 2013 - 2018; nhận diện sự phân tách giữa mạng lưới quản lý rác thải nhà nước chính thức và dòng thu gom phế liệu phi chính thức.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố (nhận thức quản trị, chính sách pháp lý, tài chính, công nghệ và tính liên kết chuỗi) đến hiệu quả logistics ngược thông qua dữ liệu điều tra thực nghiệm 218 phiếu xử lý bằng SPSS 20.0.
- Đề xuất mô hình tổ chức logistics ngược chính thức, quy trình lựa chọn phương án tổ chức (In-house/Outsourcing), cơ chế vận hành Quỹ Tái chế Nhựa và kim tự tháp xử lý chất thải nhựa cho giai đoạn đến năm 2020, định hướng 2025.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Luận án chỉ giới hạn khảo sát các đối tượng chất thải ở thể rắn từ nguyên liệu hạt nhựa; chưa nghiên cứu chất thải thể lỏng, thể khí và hóa chất phụ gia phát sinh trong quá trình chế biến nhựa.
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở chuỗi cung ứng tiêu thụ nội địa, chưa đánh giá dòng logistics ngược đối với sản phẩm nhựa xuất khẩu sang các thị trường quốc tế.
- Khảo sát thực nghiệm tập trung vào các mắt xích doanh nghiệp và cơ sở tái chế tại 5 tỉnh/thành phố, không điều tra trực tiếp hành vi thải bỏ của người tiêu dùng cá nhân.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang logistics ngược cho các sản phẩm nhựa xuất khẩu gắn với các rào cản kỹ thuật và quy định môi trường quốc tế.
- Điều tra xã hội học chuyên sâu về hành vi phân loại và giao nộp rác thải nhựa của người tiêu dùng hộ gia đình trong chuỗi logistics ngược.
- Nghiên cứu quy trình thu hồi và xử lý an toàn đối với các hóa chất phụ gia độc hại sử dụng trong ngành công nghiệp nhựa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kinh doanh Thương mại, Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng: Tham khảo khung lý thuyết phát triển logistics ngược, mô hình chuỗi cung ứng vòng kín và quy trình nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng.
- Giảng viên các trường đại học khối kinh tế và kỹ thuật: Bổ sung tình huống thực tế về logistics ngược tại Việt Nam vào bài giảng môn Quản trị Logistics, Quản trị Chuỗi cung ứng và Quản lý môi trường công nghiệp.
- Lãnh đạo các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhựa và doanh nghiệp logistics: Vận dụng quy trình ra quyết định tự tổ chức hoặc thuê ngoài dịch vụ logistics ngược, tối ưu hóa dòng thu hồi phế phẩm nội bộ và cắt giảm chi phí nguyên liệu thô.
- Cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hiệp hội Nhựa Việt Nam): Sử dụng các số liệu khảo sát thực tế và đề xuất mô hình Quỹ Tái chế Nhựa để xây dựng các chính sách quản lý chất thải và cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR).
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao ngành nhựa Việt Nam có nhu cầu cấp bách phải phát triển logistics ngược?
Theo số liệu trong luận án, ngành nhựa Việt Nam tăng trưởng nhanh (16% - 18%/năm giai đoạn 2010 - 2015) nhưng phụ thuộc từ 70% - 80% vào nguyên liệu nhập khẩu (nhu cầu 3,5 triệu tấn nhưng sản xuất nội địa chỉ đạt 900.000 tấn, đến năm 2020 cần 5 triệu tấn). Trong khi đó, tỷ lệ tái chế chất thải rắn tại Việt Nam chỉ đạt 10% - 12%. Việc phát triển logistics ngược giúp tận dụng nguồn phế liệu nhựa tái sinh để bù đắp thiếu hụt nguyên liệu đầu vào và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
2. Sự khác biệt cốt lõi giữa cơ chế vận hành của logistics ngược và logistics xuôi là gì?
Logistics xuôi vận hành theo cơ chế kéo (Pull - Demand driven) dựa trên nhu cầu của khách hàng, dòng hàng di chuyển phân kỳ từ một nhà máy đến nhiều điểm bán. Ngược lại, logistics ngược vận hành theo cơ chế đẩy (Push - Supply driven) do sự phát sinh của sản phẩm bị loại bỏ hoặc hỏng hóc, dòng hàng di chuyển hội tụ từ nhiều điểm tiêu dùng tập trung về các cơ sở xử lý.
3. Quy mô mẫu khảo sát định lượng sơ cấp của luận án được thiết kế như thế nào?
Luận án tiến hành điều tra từ ngày 15/6 đến 31/7/2017 trên tổng thể 2.200 doanh nghiệp tại 5 địa bàn trọng điểm (Hà Nội, Hưng Yên, Đà Nẵng, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh). Khảo sát trên 2 nhóm đối tượng: doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhựa và các cơ sở tái chế nhựa; thu được 218 phiếu trả lời hợp lệ để đưa vào phân tích thống kê trên phần mềm SPSS 20.0.
4. Hai doanh nghiệp điển hình nào được lựa chọn nghiên cứu tình huống sâu trong luận án?
Luận án phỏng vấn sâu và phân tích tình huống thực tế tại 2 doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Nhựa Hà Nội (HPC, đại diện cho doanh nghiệp sản xuất nhựa kỹ thuật công nghiệp quy mô lớn) và Công ty TNHH Tấn Tài (đại diện cho doanh nghiệp thực hiện thu gom, sơ chế và tái chế phế liệu nhựa).
5. Mô hình tổ chức logistics ngược chính thức được luận án đề xuất tại Chương 4 có điểm gì trọng tâm?
Luận án đề xuất chuyển đổi hệ thống thu gom từ tự phát phi chính thức sang mạng lưới liên kết chính thức giữa nhà sản xuất, phân phối và đơn vị tái chế; thành lập Quỹ Tái chế Nhựa để điều tiết kinh phí hỗ trợ thu gom; đồng thời áp dụng kim tự tháp xử lý ưu tiên giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế cơ học trước khi xử lý tiêu hủy.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trần Thị Thu Hương (2018) đã giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa Việt Nam. Thông qua phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phỏng vấn chuyên sâu tình huống điển hình và điều tra khảo sát định lượng 218 phiếu tại 5 địa bàn trọng điểm, công trình đã làm rõ thực trạng phân tách giữa hệ thống quản lý rác thải chính thức và dòng thu gom phi chính thức, lượng hóa các yếu tố tác động đến hiệu quả logistics ngược. Luận án đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện tổ chức, đa dạng hóa các dòng thu hồi và áp dụng mô hình kim tự tháp xử lý chất thải nhằm hỗ trợ ngành nhựa Việt Nam giảm phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu và định hướng phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn 2025.