Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoàn thiện pháp luật về đại diện trong các công ty đối vốn" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Huệ, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Hồng Hạnh, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2024 (Chuyên ngành: Luật Kinh tế, Mã số: 92380107).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp giữ vai trò nòng cốt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đặt mục tiêu đến năm 2025 có khoảng 1,5 triệu doanh nghiệp hoạt động, đóng góp khoảng 55% GDP; đến năm 2030 có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với mức đóng góp 60 - 65% GDP. Trong hoạt động của doanh nghiệp, chế định đại diện trong các công ty đối vốn (CTĐV) là mắt xích pháp lý bảo đảm sự kết nối và xác lập các giao dịch kinh doanh, thương mại.

Mặc dù khung pháp luật điều chỉnh đại diện trong CTĐV tại Việt Nam đã từng bước hình thành từ năm 1990 đến nay, thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ nhiều bất cập, vướng mắc. Nhiều tranh chấp kinh doanh thương mại phức tạp, giá trị lớn đã phát sinh liên quan đến tư cách và thẩm quyền của người đại diện (NĐD), điển hình như các vụ việc được phát triển thành Án lệ số 09/2016/AL, vụ án Huỳnh Thị Huyền Như (chiếm đoạt gần 4.000 tỷ đồng), đại án Ocean Bank, hay tình trạng "nghề giám đốc thuê: danh hão, tù thật". Bên cạnh đó, theo Tờ trình số 534/TTr-CP ngày 28/10/2019 của Chính phủ về dự án Luật Doanh nghiệp năm 2020, Việt Nam đang đặt mục tiêu nâng cao chuẩn mực quản trị công ty đạt thông lệ ASEAN 4 và cải thiện chỉ số bảo vệ nhà đầu tư lên ít nhất 20 bậc theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học ở cấp độ tiến sĩ luật học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống thực trạng pháp luật Việt Nam về đại diện trong các CTĐV đặt trong mối liên hệ điều chỉnh tổng thể của nhiều văn bản quy phạm pháp luật (BLDS 2015, LDN 2020, BLTTDS 2015, BLTTHS 2015, Luật Thương mại 2005, Luật Chứng khoán 2019, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2020, Luật Tố tụng Hành chính 2015, Luật Phòng chống tham nhũng 2018) kết hợp đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp quốc tế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về đại diện và pháp luật về đại diện trong các CTĐV, phân tích và đánh giá thực trạng quy định cùng thực tiễn thi hành pháp luật Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đại diện trong các CTĐV.

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận về đại diện trong các CTĐV, luận giải cơ sở khoa học và nội dung pháp luật về đại diện trong các CTĐV.
  2. Đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam hiện hành về: định nghĩa người đại diện theo pháp luật (NĐDTPL); tiêu chuẩn, điều kiện của NĐD; căn cứ xác lập quyền đại diện; hình thức và phạm vi đại diện; quyền và nghĩa vụ của NĐD; cơ chế giám sát NĐD trong CTĐV.
  3. Nhận diện các yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đại diện trong các CTĐV.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án xác lập 6 câu hỏi nghiên cứu và 6 giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Đặc điểm của CTĐV là gì? Mối liên hệ giữa sự hình thành, phát triển của các CTĐV và đại diện trong các CTĐV như thế nào?
    • Giả thuyết 1: Sự hình thành và phát triển của hoạt động đại diện trong CTĐV gắn liền với sự ra đời, phát triển của các loại hình CTĐV và đặc trưng bản chất của CTĐV.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Quan niệm, đặc điểm của đại diện trong các CTĐV là gì? Vai trò của đại diện trong các CTĐV được biểu hiện như thế nào?
    • Giả thuyết 2: Các vấn đề lý luận về quan niệm, đặc điểm đại diện trong CTĐV hiện còn nhiều luồng quan điểm khác nhau và cần được luận giải toàn diện.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Khái niệm pháp luật về đại diện trong các CTĐV là gì? Cấu trúc, vai trò của hệ thống pháp luật này ra sao và được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học nào?
    • Giả thuyết 3: Việc thiếu vắng khái niệm thống nhất ảnh hưởng đến việc xác định nội dung, vai trò của pháp luật về đại diện; các cơ sở lý thuyết kinh tế - pháp lý cần được phân tích đa chiều.
  • Câu hỏi nghiên cứu 4: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đại diện trong các CTĐV như thế nào? Những hạn chế, bất cập tác động ra sao đến việc thực thi pháp luật và sự vận hành của CTĐV?
    • Giả thuyết 4: Pháp luật hiện hành còn tồn tại bất cập, chưa bảo đảm sự thuận lợi và an toàn pháp lý cho các CTĐV và bên thứ ba có liên quan.
  • Câu hỏi nghiên cứu 5: Các yêu cầu cần được bảo đảm khi hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đại diện trong các CTĐV là gì?
    • Giả thuyết 5: Các yêu cầu hoàn thiện giữ vai trò định hướng nhưng chưa được luận giải đầy đủ trong các công trình trước đây.
  • Câu hỏi nghiên cứu 6: Các giải pháp nào cần được đặt ra để hạn chế bất cập và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về đại diện trong CTĐV?
    • Giả thuyết 6: Hệ thống pháp luật đang thiếu các giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm đáp ứng chuẩn mực quản trị tốt và bảo vệ quyền lợi các bên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về đại diện và pháp luật về đại diện trong CTĐV; thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật về đại diện trong CTĐV tại Việt Nam; các học thuyết pháp lý và quy định pháp luật của một số quốc gia (Hoa Kỳ, Anh, Úc, Đức, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc) về đại diện của pháp nhân.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật hiện hành và các số liệu, bản án, án lệ phát sinh trong quá trình áp dụng các đạo luật như BLDS 2015, LDN 2014, LDN 2020 và các luật tố tụng, chuyên ngành liên quan.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề pháp lý điều chỉnh người đại diện theo pháp luật (NĐDTPL) và người đại diện theo ủy quyền (NĐDTUQ) trong hai loại hình công ty đối vốn điển hình là công ty cổ phần (CTCP) và công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH). Luận án không đi sâu vào quan hệ đại diện của người lao động nói chung, đại diện của các cơ quan quản trị nội bộ (HĐQT, ĐHĐCĐ, HĐTV) với tư cách tổ chức đại diện, đại diện cho thương nhân theo Luật Thương mại 2005, hay đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tình hình nghiên cứu trong nước

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong nước theo ba cấp độ:

Nhóm công trình Tác giả và năm công bố Trọng tâm và kết quả nghiên cứu chính
Luận án tiến sĩ - Hồ Ngọc Hiển (2012)
- Nguyễn Thị Vân Anh (2015)
- Lê Việt Phương (2018)
- Đỗ Minh Tuấn (2018)
- Nguyễn Thị Thanh (2020)
- Bùi Thị Hà (2021)
- Nghiên cứu đại diện cho thương nhân và so sánh quốc tế.
- Kiểm soát giao dịch giữa công ty với người có liên quan; nghĩa vụ công khai của NĐDTPL.
- Mô hình đại diện của CTCP theo LDN 2014, xử lý giao dịch vượt thẩm quyền, cơ chế giám sát NĐD.
- Nghĩa vụ của người quản lý công ty trong CTCP.
- Mô hình đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo LDN Việt Nam.
- Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.
Luận văn thạc sĩ - Hà Thị Thu Hằng (2007)
- Phạm Lâm Hải Nguyên (2014)
- Lê Thị Định (2017)
- Bùi Thị Tâm (2017)
- Trần Văn Hùng (2021)
- Chu Thuận Yến (2021)
- Quản lý chi phí đại diện trong CTCP.
- Chế định người đại diện theo LDN.
- Đại diện theo pháp luật của pháp nhân và khảo sát thực tiễn tại doanh nghiệp nhà nước (Vinataba), địa bàn TP. Hà Nội theo LDN 2020.
Sách chuyên khảo & Bài báo tạp chí - Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009)
- Bùi Xuân Hải (2007, 2011)
- Huy Cương (2009)
- Nguyễn Ngọc Thanh (2010)
- Nguyễn Vũ Hoàng (2013)
- Quách Thúy Quỳnh, Nguyễn Thị Vân Anh (2016)
- Vũ Lan Phương (2018)
- Nguyễn Hữu Phúc (2019)
- Lê Thảo Nguyên (2020)
- Đào Thị Thu Hằng (2020)
- Trương Thanh Đức (2021)
- Vũ Quang (2021)
- Tạ Kiện Tường (2022)
- Quản lý vốn, tranh chấp và bản chất pháp nhân.
- Học thuyết đại diện, khởi kiện người quản lý công ty.
- Chế định đại diện nhìn từ luật so sánh.
- Quyền sở hữu và đại diện, gợi ý chính sách.
- Hợp đồng vô hiệu do vi phạm thẩm quyền, bảo vệ bên thứ ba ngay tình.
- Cơ chế đại diện trong BLDS 2015.
- Quyền đại diện trong hoạt động của ngân hàng thương mại.
- Rủi ro từ quy định doanh nghiệp có nhiều NĐDTPL.
- Trách nhiệm dân sự của người đại diện pháp nhân.
- Phân tích quy định về Giám đốc và NĐDTPL theo LDN 2020.

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Luận án điểm lại các công trình kinh điển và các tài liệu chuyên khảo quốc tế có liên quan:

  • Adam Smith (1776/2002) - An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations: Phân tích sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, chỉ ra nguy cơ người quản lý không tận tâm chăm sóc vốn của cổ đông như tiền của chính mình.
  • John Micklethwait và Adrian Wooldridge (2003) - The Company: A Short History of a Revolutionary Idea: Khái quát lịch sử phát triển của công ty qua 8 giai đoạn từ 3.000 năm TCN đến hiện đại, khẳng định sự gắn kết giữa lịch sử công ty và thiết chế đại diện.
  • Larelle Chapple và Phillip Lipton (2002) - Corporate Authority and Dealings with Officers and Agents (Úc): Phân tích thẩm quyền công ty, học thuyết thẩm quyền hiển nhiên và nguyên tắc quản trị nội bộ trong Luật Công ty Úc.
  • American Law Institute (2006) - Restatement of the Law (3d) of Agency (Hoa Kỳ): Hệ thống hóa các nguyên tắc về thẩm quyền, xác lập, chấm dứt đại diện, sự phê chuẩn và trách nhiệm pháp lý với bên thứ ba.
  • Dalley (2011) - A Theory of Agency Law (University of Pittsburgh Law Review): Phân tích cơ chế pháp luật đại diện ràng buộc trách nhiệm của người được đại diện thông qua hành vi của người đại diện.
  • Alchian & Demsetz (1972), Ross (1973), Jensen & Meckling (1976): Đặt nền móng cho học thuyết đại diện và lý thuyết chi phí đại diện trong quản trị doanh nghiệp.
  • Martin Schulz & Oliver Wasmeier (2012), Carsten Jungmann (2007): Phân tích cơ cấu quản lý một hội đồng (one-tier) và hai hội đồng (two-tier) tại Anh, Đức và Hoa Kỳ.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận chế định đại diện ở phạm vi hẹp (từng loại hình doanh nghiệp riêng lẻ như CTCP, hoặc chỉ dưới góc độ tố tụng dân sự, hoặc chỉ thuần túy phân tích Luật Doanh nghiệp). Luận án giải quyết khoảng trống về một công trình nghiên cứu hệ thống, tích hợp giữa Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành khác, đánh giá toàn diện địa vị pháp lý của cả NĐDTPL và NĐDTUQ trong các CTĐV, giải quyết xung đột pháp luật về thẩm quyền đại diện, và đề xuất cơ chế bảo vệ bên thứ ba ngay tình dựa trên sự tiếp thu có chọn lọc các học thuyết pháp lý quốc tế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

Luận án sử dụng các học thuyết kinh tế và pháp lý nền tảng:

  • Học thuyết đại diện (Agency Theory): Do Stephen Ross, Michael Jensen và William Meckling phát triển. Phân tích quan hệ ủy thác giữa chủ sở hữu (principal) và người điều hành/đại diện (agent), trong đó NĐD được trao quyền ra quyết định nhân danh NĐĐD nhưng có thể phát sinh mâu thuẫn lợi ích.
  • Học thuyết chi phí đại diện (Agency Costs Theory): Luận giải các chi phí phát sinh để giám sát, ràng buộc hành vi của NĐD nhằm giảm thiểu thiệt hại do xung đột lợi ích gây ra.
  • Học thuyết quản trị việc nội bộ (Doctrine of Indoor Management / Turquand Rule): Nguyên tắc bảo vệ bên thứ ba ngay tình khi giao kết hợp đồng với công ty mà không buộc họ phải điều tra việc tuân thủ các quy trình quản trị nội bộ của công ty đó.
  • Khái niệm đại diện trong truyền thống luật học:
    • Khái niệm La Mã: "Qui facit per alium, facit per se" (Người nào hành động thông qua người khác thì coi như chính người đó hành động); khái niệm người quản lý (magister).
    • Khái niệm Thông luật (Common Law): Các hình thức thẩm quyền đại diện như thẩm quyền thực tế ngầm định (implied actual authority), thẩm quyền hiển nhiên (apparent authority / ostensible authority), đại diện do phê chuẩn (agency by ratification), đại diện không thể phủ nhận (agency by estoppel), đại diện theo quy định pháp luật (agency by operation of law).
    • Khái niệm Dân luật (Civil Law): Điều 1984 BLDS Pháp (hợp đồng đại diện), Điều 164 BLDS Đức (BGB - tuyên bố ý chí của người đại diện có hiệu lực trực tiếp với người được đại diện).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng thể chế kinh tế thị trường.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp thống kê, tổng hợp: Thu thập, phân loại các công trình khoa học, bản án, quyết định giám đốc thẩm và văn bản pháp luật qua các thời kỳ.
    • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn (từ năm 1990, Luật Doanh nghiệp các năm 1999, 2005, 2014, 2020; BLDS các năm 1995, 2005, 2015) và so sánh với pháp luật của Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Úc, CHLB Đức, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc.
    • Phương pháp phân tích và nghiên cứu tình huống: Mổ xẻ các vụ án thực tế (Án lệ 09/2016/AL, vụ án Huyền Như, các vụ việc tranh chấp thẩm quyền ký kết hợp đồng tín dụng ngân hàng) để đánh giá tính tương thích và bất cập của quy phạm pháp luật.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (BLDS 2015, LDN 2020, BLTTDS 2015, BLTTHS 2015, Luật Thương mại 2005, Luật Chứng khoán 2019, Luật Xử lý VPHC 2020, Luật TTHC 2015, Luật Phòng chống tham nhũng 2018 và các nghị định hướng dẫn).
  • Văn kiện Đảng và Tờ trình số 534/TTr-CP của Chính phủ.
  • Tuyển tập Án lệ của Tòa án nhân dân tối cao và các bản án thực tế được công bố.
  • Các tài liệu, đạo luật công ty nước ngoài (Mỹ, Anh, Úc, Đức, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc) và các bộ tuyển tập án lệ, từ điển luật học quốc tế (Black's Law Dictionary, Restatement of Agency).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về đại diện và pháp luật về đại diện trong các công ty đối vốn

Chương 1 xây dựng khung lý thuyết toàn diện về đại diện và pháp luật về đại diện trong CTĐV với các luận điểm chính:

  1. Khái quát và đặc trưng của công ty đối vốn:

    • CTĐV (chủ yếu gồm CTCP và CTTNHH) là phương thức đầu tư và phân bổ rủi ro của các cổ đông, thành viên.
    • Có tư cách pháp nhân độc lập, tài sản tách biệt hoàn toàn với tài sản của thành viên, cổ đông; thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp/cổ phần đã đăng ký.
    • Cổ phần, phần vốn góp có tính tự do chuyển nhượng (với CTTNHH có một số hạn chế theo luật định để duy trì yếu tố đối nhân).
    • Quản lý tập trung thông qua bộ máy chuyên trách: Tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, điều hành.
  2. Quan niệm và đặc điểm của đại diện trong CTĐV:

    • Quan niệm: Đại diện trong CTĐV là quan hệ pháp luật giữa NĐD với CTCP, CTTNHH được xác lập theo quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyền, theo đó NĐD nhân danh và vì lợi ích của công ty xác lập, thực hiện các giao dịch thuộc phạm vi đại diện.
    • Đặc điểm: (i) Chủ thể được đại diện là pháp nhân thương mại; (ii) Địa vị pháp lý của NĐD chịu tác động trực tiếp bởi mô hình tổ chức công ty (mô hình một hội đồng - one-tier boards hoặc mô hình hai hội đồng - two-tier boards); (iii) Luôn tiềm ẩn khả năng xung đột lợi ích giữa NĐD và công ty do xu hướng tư lợi của NĐD.
  3. Cơ sở lý luận và nội dung pháp luật về đại diện trong CTĐV:

    • Luận giải sự chi phối của 3 học thuyết: Học thuyết đại diện, Học thuyết chi phí đại diện và Học thuyết quản trị việc nội bộ.
    • Khái niệm pháp luật về đại diện trong CTĐV: Tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ đại diện, giám sát và xác định trách nhiệm pháp lý của NĐD trong CTCP, CTTNHH.
    • Nội dung điều chỉnh bao gồm: Khái niệm, tiêu chuẩn điều kiện NĐD, căn cứ xác lập quyền đại diện, hình thức, phạm vi thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ, cơ chế giám sát và trách nhiệm xử lý vi phạm.

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về đại diện trong các công ty đối vốn

Chương 2 phân tích chi tiết quy định thực định và đối chiếu với thực tiễn xét xử, chỉ ra các khoảng trống và bất cập pháp lý:

  1. Về khái niệm đại diện và người đại diện:

    • BLDS 2015 và LDN 2020 quy định công ty có thể có một hoặc nhiều NĐDTPL. Tuy nhiên, nội hàm phân định giữa tư cách NĐDTPL và chức danh quản lý điều hành (Chủ tịch HĐQT, Chủ tịch HĐTV, Giám đốc/Tổng giám đốc) chưa hoàn toàn rành mạch.
  2. Về tiêu chuẩn, điều kiện của người đại diện:

    • Pháp luật quy định tiêu chuẩn chung về năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, tiêu chuẩn đối với NĐDTUQ còn sơ sài, thiếu các chế tài kiểm tra năng lực chuyên môn và đạo đức hành nghề, dẫn đến tình trạng thuê người đứng tên làm "giám đốc bù nhìn".
  3. Về căn cứ xác lập quyền đại diện:

    • Phân tích 4 căn cứ: (i) Điều lệ pháp nhân; (ii) Quy định của pháp luật; (iii) Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (iv) Sự ủy quyền.
    • Bất cập: Trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều NĐDTPL mà Điều lệ không phân định rõ quyền và nghĩa vụ của từng người thì LDN 2020 quy định mỗi NĐDTPL đều là đại diện đủ thẩm quyền. Điều này gây xung đột thẩm quyền khi các NĐDTPL đưa ra các quyết định trái ngược nhau hoặc một bên phản đối giao dịch do bên kia xác lập.
  4. Về hình thức và phạm vi đại diện:

    • Pháp luật Việt Nam mới chỉ ghi nhận đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền, chưa chính thức quy định các hình thức đại diện hiển nhiên (apparent authority) hay đại diện mặc nhiên.
    • Khi NĐDTPL thực hiện giao dịch vượt quá thẩm quyền nội bộ (ví dụ: chưa có Nghị quyết của HĐQT hoặc ĐHĐCĐ/HĐTV thông qua), việc xác định hợp đồng vô hiệu hay có hiệu lực đối với bên thứ ba ngay tình vẫn gặp nhiều vướng mắc trong áp dụng Điều 142, Điều 143 BLDS 2015.
  5. Về quyền, nghĩa vụ và cơ chế giám sát người đại diện:

    • LDN 2020 quy định nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng, trung thành vì lợi ích của công ty (Điều 13). Tuy nhiên, cơ chế giám sát của Ban kiểm soát hoặc cổ đông thiểu số đối với NĐD còn thiếu công cụ thực thi; thủ tục khởi kiện người quản lý/NĐD của cổ đông thiểu số còn phức tạp, khó tiếp cận hồ sơ, chứng từ nội bộ.

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đại diện trong các công ty đối vốn

Chương 3 đề xuất các yêu cầu và nhóm giải pháp lập pháp nhằm hoàn thiện chế định đại diện:

  1. Các yêu cầu hoàn thiện pháp luật:

    • Phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế thị trường, nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp.
    • Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất nội tại giữa BLDS 2015, LDN 2020 và các luật chuyên ngành, luật tố tụng; tương thích với thông lệ quốc tế (chuẩn mực OECD, ASEAN 4).
    • Khắc phục triệt để các bất cập trong quản trị nội bộ và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án, Trọng tài.
  2. Các kiến nghị cụ thể:

    • Hoàn thiện nội hàm quy định về NĐDTPL: Làm rõ trách nhiệm liên đới hoặc riêng rẽ giữa các NĐDTPL trong trường hợp công ty có nhiều NĐDTPL; quy định rõ giá trị pháp lý của giao dịch khi có sự phản đối giữa các đại diện.
    • Bổ sung hình thức thẩm quyền đại diện hiển nhiên: Tiếp thu nguyên tắc Doctrine of Indoor Management để bảo vệ bên thứ ba ngay tình khi giao dịch với người mà công ty tạo ra sự tin tưởng hợp lý rằng họ có thẩm quyền.
    • Nâng cao tiêu chuẩn, điều kiện: Bổ sung các quy định ngăn chặn việc lợi dụng tư cách đại diện để trốn tránh trách nhiệm pháp lý (hiện tượng giám đốc thuê).
    • Xác lập nghĩa vụ công khai và minh bạch thông tin: Bắt buộc công ty phải đăng ký và thông báo kịp thời, công khai chi tiết phạm vi thẩm quyền của từng NĐDTPL trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
    • Hoàn thiện cơ chế giám sát và trách nhiệm: Quy định rõ ràng quy trình cổ đông khởi kiện NĐD vi phạm nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng; cụ thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại của NĐD khi xác lập giao dịch vượt quá thẩm quyền gây thiệt hại cho công ty hoặc bên thứ ba.

Phụ lục: Tư liệu pháp luật nước ngoài về đại diện trong công ty đối vốn

Cung cấp dữ liệu lập pháp và án lệ so sánh về chế định đại diện tại 5 quốc gia:

  • Hoa Kỳ: Khái niệm cơ quan đại diện theo Luật Công ty mẫu (MBCA) và Tổng tắc số 3 về Đại diện (Restatement (3d) of Agency).
  • Vương quốc Anh: Chế định đại diện theo Luật Công ty 2006 (Companies Act 2006) và các án lệ thiết lập nguyên tắc Turquand.
  • Úc: Luật Tập đoàn 2001 (Corporations Act 2001) và cơ chế bảo vệ giao dịch bên thứ ba.
  • Nhật Bản: Luật Công ty Nhật Bản về Giám đốc đại diện (Daihyō-torishimariyaku).
  • Trung Quốc: Luật Công ty CHND Trung Hoa về tư cách của Người đại diện theo pháp luật (Fading Daibiaoren).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở khoa học của chế định đại diện trong CTĐV dựa trên sự tích hợp của các học thuyết kinh tế học thể chế và luật học (Học thuyết đại diện, Học thuyết chi phí đại diện, Học thuyết quản trị việc nội bộ).
  • Xây dựng định nghĩa khoa học và luận giải các đặc thù của quan hệ đại diện trong CTĐV gắn với đặc điểm tách bạch sở hữu - quản lý và mô hình cơ cấu tổ chức quản trị (một hội đồng và hai hội đồng).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và hoàn thiện chính sách

  • Khảo cứu toàn diện và đánh giá có hệ thống thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh đại diện trong CTĐV qua nhiều tầng văn bản (BLDS 2015, LDN 2020, BLTTDS 2015, Luật Chứng khoán 2019, Luật Xử lý VPHC 2020...).
  • Nhận diện các điểm nghẽn pháp lý cốt lõi trong thực tiễn xét xử: Xung đột khi doanh nghiệp có nhiều NĐDTPL; rủi ro pháp lý đối với bên thứ ba ngay tình khi thiếu vắng cơ chế thẩm quyền hiển nhiên; sự thiếu hụt các chế tài giám sát nghĩa vụ ủy thác của NĐD.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung BLDS 2015 và LDN 2020, góp phần thực hiện mục tiêu chuẩn hóa khung khổ pháp trị doanh nghiệp theo chuẩn mực ASEAN 4 và cải thiện chỉ số bảo vệ nhà đầu tư tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trọng tâm vào hai tư cách đại diện là NĐDTPL và NĐDTUQ trong CTCP và CTTNHH; chưa đi sâu nghiên cứu toàn diện quan hệ đại diện của cơ quan nội bộ (HĐQT, HĐTV) với tư cách tổ chức đại diện, quan hệ đại diện theo Luật Thương mại 2005, đại diện của người lao động trong doanh nghiệp hay đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu cơ chế đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và trách nhiệm của NĐD phần vốn nhà nước.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm hình sự và hành chính liên đới của NĐDTPL trong các tội phạm kinh tế, môi trường và rửa tiền.
    • Mở rộng đánh giá tác động của công nghệ số và chữ ký điện tử đối với phương thức xác lập thẩm quyền đại diện trong doanh nghiệp.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học và các kiến nghị điều khoản cụ thể phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Trọng tài thương mại): Là tài liệu tham khảo hỗ trợ việc giải thích luật, đánh giá hiệu lực hợp đồng và giải quyết các tranh chấp liên quan đến người đại diện vượt thẩm quyền hoặc tranh chấp giữa các NĐDTPL.
  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên luật: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật chuyên sâu về luật kinh tế, luật so sánh và quản trị công ty.
  • Đối với doanh nghiệp và luật sư tư vấn: Hỗ trợ việc rà soát, xây dựng điều lệ công ty, thiết lập quy chế phân quyền nội bộ và phòng ngừa rủi ro pháp lý trong giao kết hợp đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án nghiên cứu những loại hình công ty đối vốn nào?

Luận án tập trung nghiên cứu hai loại hình công ty đối vốn cơ bản và phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay là Công ty cổ phần (CTCP) và Công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH).

2. Các học thuyết kinh tế và pháp lý nền tảng được tác giả sử dụng là gì?

Tác giả sử dụng 3 học thuyết chính: (i) Học thuyết đại diện (Agency Theory) của Stephen Ross, Michael Jensen và William Meckling; (ii) Học thuyết chi phí đại diện (Agency Costs Theory); (iii) Học thuyết quản trị việc nội bộ (Doctrine of Indoor Management hay quy tắc Turquand).

3. Vấn đề bất cập nổi bật nhất khi doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật được luận án chỉ ra là gì?

Đó là tình trạng pháp luật hiện hành chưa quy định cơ chế giải quyết xung đột khi các NĐDTPL đưa ra các ý chí trái ngược nhau, hoặc khi một NĐDTPL ký kết giao dịch nhưng bị NĐDTPL khác phản đối, gây khó khăn cho việc xác định hiệu lực giao dịch đối với bên thứ ba ngay tình.

4. Luận án đề xuất bổ sung hình thức đại diện nào từ thông lệ quốc tế vào pháp luật Việt Nam?

Luận án kiến nghị bổ sung và thừa nhận hình thức thẩm quyền đại diện hiển nhiên (apparent authority / ostensible authority) nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba ngay tình khi giao kết giao dịch với người tạo ra sự tin tưởng hợp lý về thẩm quyền đại diện.

5. Những vụ án thực tế nào được luận án sử dụng làm tình huống phân tích điển hình?

Luận án sử dụng Án lệ số 09/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, vụ án chiếm đoạt tài sản của Huỳnh Thị Huyền Như (VietinBank), vụ án tại Ocean Bank và các vụ án liên quan đến tình trạng giám đốc thuê ("danh hão, tù thật").


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Minh Huệ là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về chế định đại diện trong các công ty đối vốn tại Việt Nam dưới góc độ luật kinh tế và luật so sánh. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa các học thuyết kinh tế - pháp lý quốc tế với phân tích thực trạng đa tầng văn bản quy phạm và thực tiễn xét xử, luận án đã chỉ rõ các bất cập trong cơ chế đại diện hiện hành. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật được luận án đề xuất có giá trị khoa học và thực tiễn rõ rệt, đóng góp tích cực vào tiến trình hoàn thiện khung khổ pháp lý về quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam.