CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trên thế giới 1. Các nghiên cứu trên thế giới về mức độ CBTT tự nguyện Cho đến nay, chủ đề về mức độ CBTT tự nguyện đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, và xem xét theo những khía cạnh khác nhau. Ở tầm vĩ mô, có các nghiên cứu của Meek et al.
(1995) tại Châu Âu, Hoa Kỳ và Anh, của Chau and Gray (2002) tại Hồng Kông và Singapore, của Zhou et al. (2008) tại Trung Quốc và Thụy Điển, của tác giả Elmans (2012) tại năm quốc gia Châu Âu là: Đức, Pháp, Ý, Hà Lan và Bỉ. Meek et al. (1995), đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện qua ba loại thông tin (chiến lược, phi tài chính, và tài chính) trên các BCTN của các công ty đa quốc gia đến từ Hoa Kỳ, Anh và Châu Âu.
Các công ty được chọn từ Tuần báo kinh doanh 1000, Thời báo tài chính Mỹ Top 500, và Thời báo tài chính Châu Âu Top 500 trong năm 1989, họ sử dụng một bảng điểm cân bằng để đo lường mức độ CBTT tự nguyện, bằng phương pháp phân tích hồi quy, tác giả cho thấy quy mô công ty, quốc gia hoặc khu vực, tình trạng niêm yết, và ngành công nghiệp mà công ty đang hoạt động trong lĩnh vực đó có tác động đến mức độ CBTT tự nguyện, ngược lại lợi nhuận (ROA) không có ảnh hưởng đến việc tiết lộ thông tin. Kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy mối quan hệ nghịch chiều của đòn bẩy tài chính đến mức độ CBTT tự nguyện. Chau and Gray (2002) lại xem xét mức độ CBTT tự nguyện giữa Hồng Kông và Singapore. Mẫu nghiên cứu bao gồm 122 CTNY (60 CTNY ở Hồng Kông, và 62 CTNY ở Singapore), các công ty này đều hoạt động trong nghành công nghiệp (thực phẩm và đồ uống, vận chuyển và giao thông vận tải, xuất bản và in ấn, thiết bị điện tử và công nghệ, vật liệu xây dựng) có BCTN vào cuối năm 1997, với phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến và sử dụng các biến kiểm soát như: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, quy mô kiểm toán, lợi nhuận và công ty đa quốc gia.
Kết quả cho thấy quyền sở hữu có mối tương quan thuận chiều đến mức độ CBTT tự nguyện ở Hồng Kông và Singapore, ngược lại các công ty kiểm soát gia đình có ít nhu cầu CBTT tự nguyện hơn các công ty cổ phần lớn. Theo Zhou et al. (2008) cho thấy, tổng mức độ CBTT tự nguyện (thông tin chiến lược, thông tin phi tài chính và các thông tin tài chính) giữa hai nước Trung Quốc và Thụy Điển là hoàn toàn tương tự nhau. Tuy nhiên mức độ CBTT chiến lược ở 123doc 6 Trung Quốc là cao hơn ở Thụy Điển, trong khi đó mức độ CBTT tài chính của các công ty Thụy Điển lại nhiều hơn Trung Quốc, kết quả này được tìm thấy khi tác giả phân tích dữ liệu từ 24 CTNY trên TTCK Thượng Hải của Trung Quốc, và 21 công ty niêm yết trên sàn OMX Stockholm ở Thụy Điển.
Tại Châu Âu, Elmans (2012) đã tiến hành nghiên cứu 100 công ty, bao gồm năm nước là: Đức, Pháp, Ý, Hà Lan và Bỉ trong năm 2010. Kết quả cho thấy mức độ CBTT trung bình là: 56,9%, cao nhất là ở Hà Lan (67%), tiếp theo là Pháp (63,5%), Đức (57,3%), Bỉ (50,3%) và Ý (46,3%). Quyền sở hữu quản lý trung bình là 43,85%, quyền sở hữu của chủ sở hữu là 42,12% và quyền sở hữu nhà nước chỉ có 2,80%, trong đó Ý và Pháp có tỷ lệ về quyền sở hữu cổ đông lớn, được tập trung nhiều nhất. Bằng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính đa biến, mô hình cũng cho thấy các biến độc lập (quyền sở hữu quản lý, quyền sở hữu của chủ sở hữu, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời) giải thích 36,4% sự sai lệch, trong phạm vi CBTT tự nguyện.
Các nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện Hiện nay có rất nhiều quốc gia phát triển và đang phát triển, đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện, chẳng hạn như nghiên cứu của Akhtaruddin et al. (2009) ở Malaysia, Sukthomya (2011) ở Thái Lan, Lan et al. (2013) ở Trung Quốc, hay Barros et al. Akhtaruddin et al.
(2009), đã kiểm tra mối quan hệ giữa các biến (quy mô HĐQT, tỷ lệ giám đốc độc lập trong HĐQT, quyền sở hữu cổ phần bên ngoài, quyền kiểm soát gia đình, quy mô của ủy ban kiểm toán, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, chất lượng công ty kiểm toán, và lợi nhuận) với mức độ CBTT tự nguyện. Mục đích của nghiên cứu nhằm xác định, nhân tố nào có ảnh hưởng đáng kể đến việc tiết lộ thông tin. Tác giả đã sử dụng một mẫu gồm 105 CTNY tại Malaysia, kết quả của cho thấy quy mô HĐQT có ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện. Tuy nhiên, quy mô của ủy ban kiểm toán đã chứng tỏ không liên quan đến việc tiết lộ thông tin, ngoài ra các công ty có kiểm soát gia đình là ít minh bạch và bảo thủ hơn trong việc CBTT tự nguyện.
Tại Thái Lan, Sukthomya (2011) đã nghiên cứu các nhân tố về đặc điểm công ty, các thuộc tính về tài chính có ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện, của các 123doc 7 CTNY trên TTCK Thái Lan trong giai đoạn từ 1995 -2005. Nghiên cứu cho thấy mức độ CBTT tự nguyện có thể bị ảnh hưởng đặc biệt trong những khoảng thời gian khác nhau, cụ thể là mức độ CBTT tự nguyện, ở giai đoạn trước khủng hoảng tài chính năm 1997, là thấp hơn so với giai đoạn sau năm 1997. Các biến giải thích về HĐQT, quyền sở hữu nước ngoài, và lợi nhuận chỉ có ý nghĩa đối với phân tích hồi quy đơn biến. Biến về kiểm toán viên, sự tập trung quyền sở hữu, và đòn bẩy tài chính không có tác động đến mức độ CBTT tự nguyện.
Lan et al (2013), đã điều tra các yếu tố quyết định đến mức độ CBTT tự nguyện, của 1.066 CTNY trên Sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải (653 công ty) và Thẩm Quyến (422 công ty) ở Trung Quốc trong năm 2006, kết quả cho thấy quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, tài sản cố định, và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, có tác động tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện. Những phát hiện của nghiên cứu này, sẽ giúp các nhà quản lý Trung Quốc, điều chỉnh lại chính sách để phù hợp hơn với nhu cầu thị trường, đồng thời mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư, về độ tin cậy ở một số khoản mục nhất định, trên các BCTN mà các công ty đã công bố. Cũng trong thời gian này, Barros et al. (2013) đã nghiên cứu các nhân tố liên quan đến quản trị công ty (quyền sở hữu, cơ cấu HĐQT, tần suất các cuộc họp của HĐQT, chất lượng kiểm toán), và các biến kiểm soát (quy mô công ty, lợi nhuận và đòn bẩy tài chính), đến mức độ CBTT tự nguyện trên BCTN của 206 CTNY tại Pháp, trong khoảng thời gian từ 2006 -2009.
Tác giả đã sử dụng 112 hạng mục, được chia thành 4 nhóm để đo lường mức độ CBTT: thông tin chiến lược (30 hạng mục), thông tin phi tài chính (35 hạng mục), thông tin tài chính (36 hạng mục) và thông tin quản trị (11 hạng mục). Bằng phương pháp phân tích định lượng, sử dụng một hệ thống mô hình hồi quy GMM, kết quả cho thấy có một mối quan hệ cùng chiều của quyền sở hữu quản lý, cơ cấu HĐQT, tần suất các cuộc họp của HĐQT, và quy mô công ty với mức độ CBTT tự nguyện. Các nghiên cứu trên thế giới về tác động của cấu trúc sở hữu đến mức độ CBTT tự nguyện. Khi vấn đề về cấu trúc sở hữu nhận được nhều sự quan tâm hơn từ các nhà nghiên cứu, thì CBTT tự nguyện không chỉ tập trung về vấn đề quản trị công ty, đặc điểm HĐQT, chất lượng của ủy ban kiểm soát.
mà họ đã nghiên cứu chuyên sâu hơn về tác động của cấu trúc sở hữu (quyền sở hữu nhà nước, quyền sở hữu quản lý, quyền 123doc 8 sở hữu của các thành viên trong gia đình, quyền sở hữu cổ đông lớn, quyền sở hữu nước ngoài.) đến mức độ CBTT tự nguyện. Các nghiên cứu của tác giả Makhija et al. (2004), Matoussi and Chakroun (2008), Liao et al. (2009), Jalila and Devi (2012), Juhmani (2013), Alhazaimeh et al.
(2014), Sepasi et al. (2016), Mgammal (2017) đều liên quan đến vấn đề này. Tại Czech, Makhija et al. (2004), đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố của cấu trúc sở hữu tác động đến mức độ CBTT tự nguyện, của 43 công ty phi tài chính đại diện cho 988 công ty lớn nhất tại Czech trong năm 1993.
Chỉ số CBTT tự nguyện được dựa trên các nguyên tắc công khai từ Luật Chứng khoán, một vấn đề quan trọng liên quan đến việc xây dựng chỉ số CBTT, là vấn đề phân biệt “không được công bố” từ các mục “không áp dụng”. Tác giả xây dựng ba chỉ mục khác nhau để kiểm tra độ nhạy cảm của các kết quả cho vấn đề tiềm ẩn này, cuối cùng chỉ số CBTT tự nguyện được đo lường bằng cách lấy số lượng các khoản công bố chia cho số lượng các khoản CBTT cộng với số lượng các khoản không CBTT, còn các mục “không áp dụng” được loại bỏ trong các mục không công bố. Giá trị của chỉ số CBTT có thể dao động từ 0 đến 1. Kết quả của nghiên cứu cho thấy, cổ phần sở hữu được nắm giữ bởi các chủ sở hữu bên ngoài, có ảnh hưởng đến mức độ CBTT, nhưng không tìm thấy mối quan hệ giữa chủ sở hữu bên trong, và quyền sở hữu nhà nước đến mức độ CBTT tự nguyện.
Matoussi and Chakroun (2008), đã đưa ra hai phương pháp trọng số và không trọng số, để đo lường mức độ CBTT của các CTNY ở Tunisia. Phương pháp không trọng số được áp dụng cho các BCTN, nếu doanh nghiệp tiết lộ thông tin về: tài sản vô hình, thông tin về môi trường và xã hội, thông tin về quản trị công ty, thì sẽ cho 1 điểm, ngược lại thì 0 điểm. Phương pháp trọng số được thực hiện bằng cách phân phát 62 câu hỏi cho 40 nhà phân tích tài chính, và các nhà quản lý đầu tư đang làm việc trên TTCK Tunisia. Những người được hỏi sẽ đưa câu trả lời, để thể hiện mức độ quan trọng mà tác giả đưa ra theo thang điểm Likert 5 điểm (Với 1 = không quan trọng đối với 5 = rất quan trọng).
Kết quả có 64,51% câu trả lời sau kết quả khảo sát.