LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết đề tài Nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển mình cho những bước phát triển mới trong thế kỉ XXI, cùng với sự phát triển đó, nhân tố con người được đặt lên vị trí hàng đầu. Việc tận dụng hiệu quả khả năng lao động của con người là vấn đề mà các nhà quản lý cần quan tâm. Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, là hoạt động chân tay trí óc của con người nhằm biến đổi các vật tự nhiên tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần xã hội phục vụ nhu cầu của chính con người.
Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Lao động là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là yếu tố quyết định nhất. Chi phí về lao động là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Sử dụng hợp lý lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh là tiết kiệm chi phí về lao động sống góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng doanh lợi cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho công nhân viên và người lao động trong doanh nghiệp.
Tiền lương ( hay tiền công ) là một phần sản phẩm xã hội được doanh nghiệp phân phối cho người lao động có kế hoạch, căn cứ vào kết quả lao động mà mỗi người cống hiến cho xã hội được biểu hiện bằng tiền. Tiền lương là phần thù lao lao động để tái sản xuất sức lao động bù đắp hao phí lao động của công nhân viên đã bỏ ra trong quá trình kinh doanh. Tiền lương gắn liền với thời gian và kết quả lao động mà công nhân viên đã thực hiện, tiền lương là phần thu nhập chính của công nhân viên. Trong các doanh nghiệp hiện nay việc trả lương cho công nhân viên có nhiều hình thức khác nhau, nhưng chế độ tiền lương tính theo sản phẩm đang được thực hiện ở một số doanh nghiệp là được quan tâm hơn cả.
Trong nội dung làm chủ của người lao động về mặt kinh tế, vấn đề cơ bản là làm chủ trong việc phân phối sản phẩm xã hội nhằm thực hiện đúng nguyên tắc “phân phối theo lao động”. Thực hiện tốt chế độ tiền lương sản phẩm sẽ kết hợp được nghĩa vụ và quyền lợi, nêu cao ý thức trách nhiệm của cơ sở sản xuất, nhóm lao động và người lao động đối với sản phẩm mình làm ra đồng thời phát huy năng lực sáng tạo của người lao động, khắc phục khó khăn trong công tác kinh doanh 1 và đời sống để hoàn thành kế hoạch mục tiêu. Trong cơ chế quản lý mới hiện nay thực hiện rộng rãi hình thức tiền lương sản phẩm trong cơ sở kinh doanh có ý nghĩa quan trọng cho các doanh nghiệp đi vào làm ăn có lãi, kích thích phát triển. Ngoài tiền lương ( tiền công ) để đảm bảo tái tạo sức lao động và cuộc sống lâu dài của người lao động, theo chế độ tài chính hiện hành doanh nghiệp còn phải tính vào chi phí kinh doanh một bộ phận chi phí gồm các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn.
Trong đó, BHXH được trích lập để tài trợ cho trường hợp công nhân viên tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mất sức, nghỉ hưu… Bảo hiểm y tế để tài trợ cho việc phòng, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ của người lao động. Kinh phí công đoàn chủ yếu để cho hoạt động của tổ chức của giới lao động chăm sóc, bảo vệ quyền lợi của người lao động. Cùng với tiền lương ( tiền công ) các khoản trích lập các quỹ nói trên hợp thành khoản chi phí về lao động sống trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp kinh doanh. Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, hạch toán đúng lao động và tính đúng thù lao của người lao động, thanh toán tiền lương và các khoản liên quan kịp thời sẽ kích thích người lao động quan tâm đến thời gian và chất lượng lao động từ đó nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Vì vậy, sau những năm học tập, tìm hiểu về chuyên ngành kế toán doanh nghiệp, và quá trình thực tập tại Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Nam Hải em càng nhận thấy được tầm quan trọng của công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương nên đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Nam Hải” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu * Đối tƣợng: Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Nam Hải. * Phạm vi nghiên cứu: + Nghiên cứu tại Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Nam Hải 2018 – 2020. 2 + Đặt trọng tâm nghiên cứu phần kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
+ Số liệu: Lấy số liệu tháng 10/2020. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu công tác kế toán tiền lương tại Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Nam Hải để có những kiến thức thực tế về công tác kế toán. So sánh lý thuyết và thực tế để củng cố thêm kiến thức, nhằm góp phần đưa ra giải pháp kế toán cho Công ty. Xem xét và hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Nam Hải có đúng với quy định, chuẩn mực, theo chế độ kế toán hiện hành.
Từ đó đưa ra giải pháp hạch toán kế toán nhằm hoàn thiện công tác hạch toán tiền lương của Công ty. Phƣơng pháp nghiên cứu + Các số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách quan sát thực tế trong quá trình làm việc, tập hợp, thống kê,. + Các số liệu thứ cấp được tổng hợp thông qua các chứng từ kế toán, báo cáo tài chính, tham khảo tài liệu qua sách, báo, tạp chí, internet, tổng cục thống kê… + Phương pháp thống kê: thống kê theo bảng biểu, từ số liệu đó rút ra kết luận, các xu hướng để đánh giá tình hình hoạt động Công ty. Kết cấu đề tài Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.
Chƣơng 2: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Nam Hải. Chƣơng 3: Một số kiến nghị và biện pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Nam Hải. 3 CHƢƠNG 1: CƠ SƠ LÝ LUẬN KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số vấn đề về tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng.1 Khái niệm tiền lƣơng Theo quan niệm của Mác: Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động. Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền lương là giá cả của lao động, được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường lao động.
Tiền lương là khoản thu nhập đối với mỗi người lao động và có ý nghĩa hết sức quan trọng, ngoài đảm bảo tái sản xuất sức lao động, tiền lương còn giúp người lao động yêu nghề, tận tâm với công việc, hăng hái làm việc. Tất cả mọi chi tiêu trong gia đình cũng như ngoài xã hội đều xuất phát từ tiền lương từ chính sức lao động của họ bỏ ra. Vì vậy tiền lương là khoản thu nhập không thể thiếu đối với người lao động.2 Vai trò và ý nghĩa của tiền lƣơng * Vai trò: Tiền lương có vai trò rất to lớn, làm thỏa mãn nhu cầu của người lao động vì tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, người lao động đi làm cốt là để nhận được khoản thù lao mà doanh nghiệp trả cho họ để đảm bảo cho cuộc sống. Đồng thời cũng là khoản chi phí doanh nghiệp bỏ ra để trả cho người lao động vì họ đã làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp.
Tiền lương có vai trò như một nhịp cầu nối giữa người sử dụng lao động với người lao động. nếu tiền lương trả cho người lao động không hợp lý sẽ làm cho người lao động không đảm bảo được ngày công và kỷ luật lao động cũng như chất lượng lao động, lúc đó doanh nghiệp sẽ không đạt được mức tiết kiệm chi phí lao động cũng như lợi nhuần cần có của doanh nghiệp để tồn tại như vật lúc này cả hai bên đều không có lợi. Vì vậy công việc trả lương cho người lao động cần phải tính toán một cách hợp lý để cả hai bên cùng có lợi. * Ý nghĩa: Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, ngoài ra người lao động còn được hưởng một số nguồn thu nhập khác như: Trợ cấp BHXH, tiền lương, tiền ăn ca,… Chi phí tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.
Tổ chức sử dụng lao động hợp lý, 4 thanh toán kịp thời tiền lương và các khoản liên quan cho người lao động từ đó sẽ làm cho người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động nâng cao năng suất lao động, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp đồng thời nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.3 Chức năng của tiền lƣơng: Tiền lương là một nhân tố hết sức quan trọng của quá trình quản lý nói chung và quản lý lao động tiền lương nói riêng. Dưới đây là một số chức năng cơ bản sau: - Kích thích lao động,đòn bẩy kinh tế ( tạo động lực): Chức năng này nhằm duy trì năng lực làm việc lâu dài có hiệu quả, dựa trên cơ sở tiền lương phải đảm bảo bù đắp sức lao động đã hao phí để khuyến khích tăng năng suất, tạo niềm hứng khởi trong công việc, phát huy tinh thần sáng tạo tự học hỏi để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để từ đó giúp họ làm việc với hiệu quả cao nhất và mức lương nhận được thỏa đáng nhất.