mở đầu n , Luật Kế toán Việt Nam được Qu c hội nước Cộng ho X CN Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 bắt đầu có hiệu lực kể từ ng 01/01/2004. Ng 16/01/2006, Bộ T i chính tổ chức lấ ý kiến về việc ban h nh thông tư hướng dẫn về thực hiện KTQT tại trường Đại học Kinh tế TP. Có thể nói, đâ l động thái đầu ti n thể hiện sự quan tâm của cấp nh nước đ i với việc thực hiện KTQT tại Việt Nam. Đến ng 12/6/2006, Bộ tài chính ban h nh Thông tư s 53/2006/TT-BTC hướng dẫn áp dụng KTQT trong DN.
Hiện nay, các DN đ và đang dần áp dụng KTQT vào đơn vị nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh. Khái niệm về KTQT KTQT l một bộ phận cấu th nh trong hệ th ng kế toán v l công cụ quản lý không thể thiếu đ i với các tổ chức trong nền kinh tế thị trường. iện na , các tác giả đ đưa ra nhiều khái niệm KTQT cụ thể như sau: Theo Hilton (1991), KTQT là một bộ phận trong hệ th ng thông tin của một tổ chức. Các nhà quản lý dựa vào thông tin KTQT để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức.
tkinson trong cu n dvanced Management Accounting, “ ệ th ng KTQT cung cấp thông tin giúp cho những người quản lý doanh nghiệp trong việc hoạch định và kiểm soát hoạt động của họ”. Theo tác giả Ra .Garrison đưa ra định nghĩa về KTQT trong quyển “Managerial ccounting” lần xuất bản thứ năm, “KTQT li n quan đến việc cung 10 cấp thông tin cho các nhà quản lý bên trong doanh nghiệp – những người có vai trò điều khiển hoạt động của doanh nghiệp. KTQT có thể tương phản với kế toán tài chính – li n quan đến việc cung cấp thông tin cho cổ đông, chủ nợ và những người khác bên ngoài doanh nghiệp”. Trong quyển “The Macmillan Dictionar of ccounting” định nghĩa “KTQT l lĩnh vực của kế toán liên quan chủ yếu đến những báo cáo nội bộ cho các nhà quản lý doanh nghiệp.
Nó nhấn mạnh việc điều khiển và ra quyết định hơn l khía cạnh kế toán. Nó không phụ thuộc vào chuẩn mực kế toán và có thể tương phản với kế toán t i chính”. Trong từ điển thuật ngữ của kế toán Mỹ có định nghĩa như sau: “KTQT là một lĩnh vực của kế toán li n quan đến việc định lượng các thông tin kinh tế và hỗ trợ những nhà quản trị trong việc đưa ra các qu ết định t i chính, đặc biệt trong việc hoạch định và quản lý giá th nh”. Theo luật kế toán Việt Nam, “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” (Luật kế toán, khoản 3, điều 4).
Theo các nhà khoa học Học viện tài chính, “KTQT là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động của DN một cách cụ thể, phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra v đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch các hoạt động của DN”. Theo định nghĩa của iệp hội kế toán viên quản trị Hoa Kỳ: “KTQT là quá trình nhận diện, đo lường, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin trong quá trình thực hiện các mục đích của tổ chức. KTQT là một bộ phận th ng nhất trong quá trình quản lý, và nhân viên KTQT là những đ i tác chiến lược quan trọng trong đội ngũ quản lý của tổ chức”. Nói tóm lại, KTQT là một phân hệ trong hệ th ng kế toán được thiết kế để thoả mãn nhu cầu thông tin của các nhà quản lý và các cá nhân khác làm việc trong một tổ chức để thực hiện chức năng quản trị doanh nghiệp từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá v ra qu ết định.
So sánh giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị 2. hững điể giống nhau giữa KTTC v Kế toán được định nghĩa l một hệ th ng thông tin đo lường, xử lý và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Khi xét về phạm vi phục vụ chủ yếu của thông tin kế toán thì kế toán được phân thành KTQT và KTTC, giữa chúng có nhiều điểm gi ng nhau và là hai bộ phận không thể tách rời của kế toán DN. Những điểm gi ng nhau cơ bản là: Thứ nhất, KTQT và KTTC có cùng đ i tượng nghi n cứu l đề cập đến các sự kiện kinh tế trong DN v đều quan tâm đến tài sản, nợ phải trả, nguồn v n sở hữu, doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động, quá trình lưu chu ển tiền tệ của DN.
Thứ hai, KTQT và KTTC đều dựa trên hệ th ng ghi chép ban đầu của kế toán. Hệ th ng ghi chép ban đầu l cơ sở để KTTC soạn thảo các báo cáo tài chính định kỳ, cung cấp cho các đ i tượng b n ngo i. Đ i với KTQT, hệ th ng đó cũng l cơ sở để vận dụng, xử lý nhằm tạo ra các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định của các nhà quản trị. Thứ ba, KTQT và KTTC đều biểu hiện trách nhiệm của người quản lý.
KTTC biểu hiện trách nhiệm của người quản lý cấp cao, còn KTQT biểu hiện trách nhiệm của các nhà quản lý các cấp trên trong DN. Nói cách khác, KTTC hay KTQT đều là công cụ quản lý DN. hững điể hác nhau giữa v Mặc dù giữa KTTC v KTQT có m i quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng do đ i tượng và mục đích sử dụng thông tin khác nhau nên giữa KTQT và KTTC có nhiều điểm khác biệt cơ bản cụ thể như sau: Về đ i tượng phục vụ: KTTC chủ yếu phục vụ cho những đ i tượng bên ngoài doanh nghiệp như: cổ đông, chủ nợ, các cơ quan chức năng, trong khi KTQT chủ yếu phục vụ cho các cấp quản trị bên trong DN. Về đặc điểm thông tin: KTTC thể hiện thông tin kinh tế tài chính quá khứ và hiện tại, thông tin phải đầ đủ, chính xác, khách quan và kiểm tra được.
KTQT thể hiện thông tin kinh tế hướng tới tương lai, thông tin phải kịp thời, linh hoạt, phù hợp 12 với yêu cầu quản trị. Về kỳ hạn lập báo cáo: Báo cáo của KTTC được soạn thảo định kỳ theo qu định của chế độ báo cáo kế toán, còn báo cáo của KTQT được soạn thảo theo định kỳ hoặc tuỳ thuộc v o u cầu quản lý. Về mẫu báo cáo: Hình thức và nội dung của báo cáo KTTC tuân thủ các chế độ báo cáo do Bộ tài chính ban hành. Hình thức và nội dung của báo cáo KTQT linh hoạt tuỳ theo yêu cầu của quản trị.
Về tính pháp lý: Thông tin của KTTC có tính pháp lý cao. Thông tin của KTQT không có tính pháp lý. Về phạm vi của thông tin cung cấp: Thông tin do KTTC cung cấp thường được soạn thảo với phạm vi toàn bộ DN. Trong khi đó thông tin do KTQT cung cấp gắn liền với các bộ phận của DN, dự án, sản phẩm của DN hoặc về bất kỳ bộ phận nào của DN mà cần ra quyết định.
Quan hệ với các ng nh khoa học khác: KTQT được mở rộng, li n hệ với nhiều ng nh khoa học khác như th ng k , phân tích,. để có thông tin hữu ích đáp ứng cho nhu cầu thông tin của các nh quản trị. KTTC ghi nhận lại những sự kiện kinh tế đ diễn ra trong quá trình kinh doanh bằng những phương pháp ri ng, do đó ít quan hệ với các ng nh khoa học khác.1 Sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị Khác nhau Kế toán tài chính Kế toán quản trị Đ i tượng Những đ i tượng sử dụng ở bên phục vụ chủ ngoài DN: cổ đông, chủ nợ, các cơ Các cấp quản trị ở bên trong yếu quan chức năng,. DN - Phản ánh thông tin kinh tế - Phản ánh thông tin kinh tế tài chính quá khứ và hiện tại.
hướng tới tương lai Đặc điểm - Thông tin phải đầ đủ, chính - Thông tin phải kịp thời thông tin. xác, khách quan và kiểm tra linh hoạt, phù hợp yêu cầu được. 13 Thông tin cung cấp gắn liền DN v các đơn vị, dự án, sản phẩm Phạm vi cung Thông tin cung cấp thường được của DN hoặc về bất kỳ bộ phận cấp thông tin soạn thảo với phạm vi toàn bộ DN nào của DN mà cần ra quyết định Báo cáo được soạn thảo theo định Báo cáo được soạn thảo theo Kì báo cáo kỳ định kỳ hay khi có nhu cầu Hình thức và nội dung của báo cáo Hình thức và nội dung của Mẫu báo cáo tuân thủ các chế độ báo cáo do Bộ báo cáo linh hoạt tuỳ theo yêu Tài chính ban hành cầu của quản trị Thông tin của kế toán tài chính có Thông tin của kế toán quản trị Tính pháp lý tính pháp lý cao. không có tính pháp lý Quan hệ với các ng nh Quan hệ ít Quan hệ nhiều khoa học khác 2.
Vai trò của kế toán quản trị Thông tin KTQT có vai trò quan trọng trong tổ chức. Vai trò của KTQT được thể hiện rõ trong việc cung cấp thông tin để thực hiện các chức năng của nh quản trị cụ thể như sau: Vai trò của KTQT phục vụ chức năng hoạch định là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động của đơn vị, của đ i thủ cạnh tranh, điều kiện thị trường, thị hiếu khách hàng và sáng kiến kĩ thuật…nhằm giúp cho nh quản trị xác định mục ti u đồng thời xây dựng các kế hoạch ngắn hạn, d i hạn để đạt được mục ti u của tổ chức. Vai trò của KTQT phục vụ chức năng tổ chức – điều hành là cung cấp thông tin cho cho các nh quản trị về việc xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực 14 hợp lý trong DN và những thông tin phát sinh hàng ngày trong DN. Tr n cơ sở các thông tin n , nh quản trị sẽ thấ được hiệu quả v chất lượng của các hoạt động đ v đang thực hiện để từ đó có thể xem xét, phân tích, điều chỉnh kịp thời v tổ chức lại hoạt động cho phù hợp.