CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN DỆT 19-5 HÀ NỘI. Đặc điểm nguyên vật liệu tại công ty TNHH một thành viên dệt 19-5 Hà Nội.1 Đặc điểm chung về nguyên vật liệu tại công ty TNHH một thành viên dệt 19-5 Hà Nội. Công ty TNHH một thành viên dệt 19-5 Hà Nội là doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn, sản phẩm đầu ra nhiều về số lượng, đa dạng về chủng loại và mặt hàng. Do đó, các yếu tố đầu vào của công ty cũng bao gồm nhiều chủng loại trong đó số lượng mỗi loại tương đối lớn, nhiều đặc điểm lý hóa học và đơn vị tính khác nhau.
Thực tế đó đặt ra cho công ty những yêu cầu cấp thiết trong công tác quản lý, hạch toán các quá trình thu mua, vận chuyển, bảo quản, dự trữ và sử dụng vật liệu. Hiện tại, nguyên vật liệu nhập kho tại công ty chủ yếu là mua ngoài bao gồm mua trong nước và một phần nhập khẩu. Nguyên vật liệu chính dùng để sản xuất là Bông, Bông có đặc điểm dễ bị hút ẩm ngoài không khí nên thường được đóng thành kiện. Trọng lượng của Bông thường thay đổi theo điều kiện khí hậu và điều kiện bảo quản nên công ty phải tính toán chính xác độ hút ẩm của Bông khi nhập và khi xuất để làm cơ sở cho việc thanh toán và phân bổ chi phí Nguyên vật liệu chính để tính giá thành.2 Phân loại nguyên vật liệu tại công ty dệt 19-5 Hà Nội.
Do nhu cầu kế hoạch sản xuất là rất linh động nên sự biến động của vật liệu là thường xuyên liên tục. Vì vậy, để quản lý chặt chẽ và có hiệu quả, cần thiết phải tiến hành phân loại vật liệu. Căn cứ vào vai trò và tác dụng của vật liệu trong sản xuất, vật liệu sử dụng tại công ty được chia thành các loại sau: - Vật liệu chính: gồm các loại bông xơ, chủ yếu nhập mua trong nước và một phần nhập ngoại như xơ PE (Eslon), xơ PE (Sunkyong), bông Trung Quốc, bông Việt Nam; sợi. 3 SV: Bùi Thu Giang Chuyên đề thực tập chuyên ngành - Vật liệu phụ: các loại thuốc tẩy, thuốc nhuộm, hồ.
- Nhiên liệu: Điện, xăng, dầu công nghiệp. - Phụ tùng thay thế: Máy may, máy kéo sợi, vòng bi, ốc vít, thoi suốt, dây cu roa. - Phế liệu: phế liệu được nhập từ sản xuất là loại hư hỏng, kém phẩm chất không sử dụng được, bông phế F1, F3, xơ hôi, vón cục sợi tụt lõi, sợi rối các loại, sắt vụn.3 Tính giá nguyên vật liệu tại công ty TNHH một thành viên dệt 19-5 Hà Nội. Để phục vụ cho công tác kế toán giá thành cũng như công tác quản lý nguyên vật liệu về mặt giá trị, cần phải tính giá nguyên vật liệu hay chính là dùng tiền để biểu hiện giá trị nguyên vật liệu nhập - xuất trong kỳ để từ đó theo dõi nguyên vật liệu tồn cuối kỳ.1 Đối với nguyên vật liệu nhập trong kỳ Muốn tính giá được chính xác thì mỗi doanh nghiệp làm cho mình một cách tính toán hợp lý nhất.
Về nguyên tắc đánh giá vật liệu nhập kho là phải theo đúng giá mua thực tế của vật liệu tức là kế toán phải phản ánh đầy đủ chi phí thực tế công ty đã bỏ ra để có được vật liệu đó. Khi tổ chức kế toán vật tư Công ty TNHH một thành viên dệt 19-5 Hà Nội, do yêu cầu phản ánh chính xác giá trị nguyên vật liệu nên khâu nhập kho công ty đã sử dụng giá thực tế. Giá này được xác định theo từng nguồn nhập. - Nguyên vật liệu chính của Công ty là bông xơ được thu mua trên thị trường trong nước là chủ yếu và một phần nhỏ nhập ngoại.
Giá thực tế vật liệu Giá mua ghi trên hóa Chi phí thu mua = + mua trong nước đơn phát sinh (nếu có) Giá mua ghi trên Chi phí thu Giá thực tế vật hóa đơn (tính Thuế nhập = + + mua phát sinh liệu nhập khẩu bằng VNĐ, chưa khẩu (nếu có) có VAT) 4 SV: Bùi Thu Giang Chuyên đề thực tập chuyên ngành Thường thì nguyên vật liệu được vận chuyển tới tận kho công ty nên hay phát sinh chi phí vận chuyển bốc dỡ. - Đối với nguyên vật liệu do công ty sản xuất gia công chế biến: Giá thực tế vật liệu Giá thực tế vật liệu xuất Chi phí chế biến = + nhập kho kho phát sinh - Đối với phế liệu thu hồi nhập kho là các sản phẩm hỏng giá thực tế nhập kho là giá trị thực tế có thể sử dụng được, giá có thể bán hoặc ước tính. - Vật liệu do Công ty thuê ngoài gia công chế biến: Giá thực tế vật liệu Giá thực tế vật liệu xuất Chi phí phát sinh = + nhập kho gia công chế biến liên quan Tại công ty TNHH một thành viên dệt 19-5 Hà Nội không có trường hợp nhận góp vốn liên doanh hay nhận viện trợ bằng nguyên vật liệu. Ví dụ về tính giá nguyên vật liệu nhập kho từ mua ngoài tại công ty: Ngày 10/01/2013 phiếu nhập kho số 0087/DET19.5, nhập kho nguyên vật liệu Bông xơ của công ty Bông Việt Nam với số lượng 5.000 đồng/kg, thuế GTGT 10%, chưa thanh toán theo hóa đơn GTGT số 0008642 của công ty Bông Việt Nam.
Vậy: Giá thực tế vật liệu = (5.000 đồng Bông nhập kho 5 SV: Bùi Thu Giang Chuyên đề thực tập chuyên ngành 1.2 Đối với nguyên vật liệu xuất trong kỳ Hiện tại, phương pháp tính giá nguyên vật liệu xuất kho công ty đang áp dụng là phương pháp bình quân gia quyền. Đây là phương pháp cung cấp cho nhà quản lý mức giá sát với giá thực tế nhất vì sau mỗi lần xuất với việc sử dụng kế toán máy, kế toán có thể tính được ngay và chính xác giá xuất kho nguyên vật liệu. Theo phương pháp ngày: Trị giá thực tế nguyên vật Trị giá thực tế nguyên + Đơn giá bình liệu tồn ĐK vật liệu nhập trong kỳ = quân gia quyền Số lượng nguyên vật liệu Số lượng nguyên vật + tồn ĐK liệu nhập trong kỳ Giá thực tế nguyên Số lượng nguyên Đơn giá bình quân gia = X vật liệu xuất kho vật liệu xuất kho quyền Riêng đối với nguyên vật liệu chính là Bông, để phản ánh giá vật liệu xuất kho cho được chính xác, công ty đã sử dụng phương pháp giá hạch toán để tạm tính giá vật liệu xuất kho. Đây là phương pháp đơn giản được thực hiện để đưa ra một mức giá phù hợp với nghiệp vụ xuất kho nguyên vật liệu, phát sinh trong kỳ hạch toán.
Lý do nguyên vật liệu này được áp dụng riêng phương pháp xuất kho là vì: - Bông xơ xuất kho chủ yếu dùng để sử dụng cho sản xuất sản phẩm của công ty, việc xuất bán ra ngoài là rất hãn hữu. - Chủng loại Bông của công ty không nhiều, giá cả nguyên vật liệu này cả mua trong nước và nhập khẩu luôn có sự biến động nó phụ thuộc vào yếu tố chủ quan và khách quan (mùa vụ, thời tiết, thuế nhập khẩu, tình hình kinh tế trong và ngoài nước,.) - Khi mua Bông có khá nhiều chi phí nên giá mua ghi trên hóa đơn và giá trị thực tế thanh toán với người bán thường chênh lệch rất nhiều. 6 SV: Bùi Thu Giang Chuyên đề thực tập chuyên ngành Vì những lý do trên, để đơn giản trong công tác hạch toán Bông, kế toán đã sử dụng phương pháp giá hạch toán cho Bông xuất kho. Cuối tháng kế toán điều chỉnh giá Bông từ giá hạch toán về giá thực tế thông qua hệ số giá.
Phương pháp tính như sau: - Đối với Bông nhập kho trong tháng: kế toán tính giá Bông nhập kho theo giá thực tế và nhập số liệu vào máy tính. - Đối với Bông xuất kho: trong kỳ kế toán áp dụng giá hạch toán và cuối kỳ điều chỉnh về giá thực tế thông qua hệ số giá: Đơn giá thực tế Đơn giá hạch toán Bông Hệ số giá Bông xuất = * Bông xuất kho xuất kho kho Trong đó: Giá hạch toán Bông xuất kho là giá ước tính được lấy căn cứ vào các kỳ trước. Trị giá thực tế Bông tồn Trị giá thực tế Bông + Hệ số giá Bông ĐK nhập trong kỳ = xuất kho Trị giá hạch toán Bông tồn Trị giá hạch toán Bông + ĐK nhập trong kỳ Phương pháp tính giá xuất kho trên đối với vật liệu chính Bông mà kế toán công ty đang áp dụng có ưu điểm làm giảm công tác kế toán nguyên vật liệu này trong kỳ. Tuy nhiên việc áp dụng phương pháp này buộc kế toán phải tính giá Bông xuất kho 2 lần trong 1 kỳ, công tác này chưa hợp lý.
Ví dụ xuất kho nguyên vật liệu cho sản xuất: Ngày 05/01/2013 xuất kho nguyên vật liệu Bông theo phiếu xuất kho số 0132/DET19.5 cho sản xuất, số lượng 3.000kg, đơn giá tạm tính Bông xuất kho 32. Với số lượng Bông tồn ĐK là 10.000kg, đơn giá thực tế Bông tồn 7 SV: Bùi Thu Giang Chuyên đề thực tập chuyên ngành ĐK là 30.000đồng/kg, số lượng Bông nhập trong kỳ là 22.000kg, đơn giá thực tế Bông nhập trong kỳ là 28. Vậy, khi xuất kho nguyên vật liệu Bông (ngày 05/01/2013) đơn giá ghi trên phiếu xuất kho là 32. Cuối kỳ, kế toán điều chỉnh đơn giá tạm tính về đơn giá thực tế theo hệ số giá: Hệ số giá Bông (10.000) = 0,894 Đơn giá thực tế = 32.608 (đồng/kg) Bông xuất kho 1.
Đặc điểm luân chuyển nguyên vật liệu của công ty dệt 19-5 Hà Nội Do đặc điểm khác biệt của từng loại nguyên vật liệu như đã nói ở trên, công ty có kế hoạch thu mua một cách hợp lý để dự trữ đủ sản xuất và vừa đủ để hạn chế, ứ đọng vốn, giảm tiền vay ngân hàng. Công tác quản lý nguyên vật liệu được đặt ra là phải bảo quản sử dụng tiết kiệm đạt hiệu quả tối đa, đặc biệt là nguyên vật liệu chính, hiểu ra điều này công ty đã tổ chức hệ thống kho tàng trữ nguyên vật liệu chính hợp lý và gần phân xưởng sản xuất. Hệ thống kho đều được trang bị khá đầy đủ phương tiện cân, đo, đong đếm để tạo điều kiện tiến hành chính xác các nghiệp vụ quản lý bảo quản chặt chẽ vật liệu. Trong điều kiện hiện nay, cùng với việc sản xuất, Công ty tổ chức quy hoạch thành 6 loại gồm: - Kho chứa nguyên vật liệu chính: kho bông.
- Kho vật liệu phụ: kho thiết bị, kho tạp phẩm, kho hóa chất. - Kho phụ tùng: kho cơ kiện sợi, kho cơ kiện dệt. 8 SV: Bùi Thu Giang Chuyên đề thực tập chuyên ngành - Kho CCDC - Kho nhiên liệu: Xăng, dầu. - Kho phế liệu.