Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU 1. Cơ sở lý luận về thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều 1. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều 1. Đầu tư và dự án đầu tư a.
Khái niệm đầu tư và dự án đầu tư * Đầu tư Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định: Đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động về chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định [2]. Theo Ngân hàng thế giới, đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định. * Dự án đầu tư Có nhiều cách hiểu khác nhau về dự án đầu tư, dưới đây là một số khái niệm thường xuyên được sử dụng khi nghiên cứu về dự án đầu tư: - DAĐT là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định. - DAĐT là tổng thể các biện pháp nhằm sử dụng các nguồn lực tài nguyên hữu hạn vốn có thể đem lại lợi ích thực cho xã hội càng nhiều càng tốt.
- DAĐT là tổng thể các hoạt động dự kiến với các nguồn lực và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Như vậy có thể hiểu về mặt hình thức về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. Về mặt quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài. Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Đặc điểm của dự án đầu tư Dự án đầu tư được thể hiện trên nhiều góc độ nhưng đều có chung những đặc điểm chủ yếu sau: - Mục tiêu của DAĐT: Được thể hiện ở hai mức, mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài. Mục tiêu trước mắt là các mục đích cụ thể cần đạt được của dự án trong một thời gian nhất định. Mục tiêu lâu dài là những lợi ích kinh tế - xã hội do dự án đem lại không chỉ cho riêng dự án mà còn cả cho nền kinh tế, cho ngành, cho khu vực. - Các kết quả: đó là kết quả cụ thể, có định hướng, được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án.
Đây vừa là điều kiện, vừa là phương tiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu của dự án. - Các hoạt động: là những nhiệm vụ cụ thể, hành động cụ thể được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. - Các nguồn lực: về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động dự án.
Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho một dự án. - Dự án đầu tư là một hoạch định cho tương lai nên bao giờ cũng có độ bất ổn và những rủi ro nhất định. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại dự án đầu tư - Theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư DAĐT được phân làm 4 loại: Dự án quan trọng quốc gia theo Nghị quyết số 66/2006/QH11 ngày 29/6/2006 của Quốc hội thì chủ đầu tư phải lập báo cáo đầu tư trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân làm 3 nhóm A, B, C.
Chủ trương phân loại này giúp cho việc Nhà nước phân cấp quản lý điều hành dự án [1]. - Theo nguồn vốn đầu tư DAĐT được phân làm 4 loại: - Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước; - Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; - Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước; - Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn. Vai trò của dự án đầu tư Dự án đầu tư có nhiều tác động đến những đối tượng sử dụng, tuy nhiên tùy thuộc vào các đối tượng sử dụng khác nhau, dự án đầu tư có ý nghĩa khác nhau: - Đối với Nhà nước: Liên quan đến các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành, của vùng cả trước mắt và lâu dài nên dự án đầu tư là cơ sở để thẩm định, căn cứ để cấp giấy phép đầu tư, giải quyết tranh chấp, cho vay vốn ưu đãi, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho chủ các dự án theo quy định của Nhà nước. - Đối với cơ quan chủ quản chủ đầu tư: Là căn cứ xem xét khi ra quyết định đầu tư.
- Đối với chủ đầu tư: Là căn cứ để xây dựng và lựa chọn các phương án đầu tư, căn cứ để xây dựng kế hoạch và điều hành kế hoạch đầu tư, giám sát đầu tư trong quá trình thực hiện. Giúp chủ đầu tư có cơ sở lựa chọn đối tác liên doanh, huy động vốn đầu tư, ký kết hợp đồng kinh doanh. Cơ sở để xin phép nhập khẩu máy móc thiết bị và xin tài trợ vốn của các tổ chức tài chính trong và ngoài nước. - Đối với nhà tài trợ: Là căn cứ quan trọng để xem xét khi quyết định tài trợ hay không tài trợ, mức tài trợ cho dự án.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm và phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều a. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều Dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình thủy lợi nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở [5].
Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều Dự án đầu tư xây dựng công trình Thủy lợi có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Dưới đây là phân loại các dự án thông thường theo một số tiêu chí cơ bản. Phân loại dự án STT Tiêu chí phân loại Các loại dự án 1 Theo cấp độ dự án Dự án thông thường, chương trình, hệ thống 2 Theo quy mô dự án Nhóm A; Nhóm B; Nhóm C 3 Theo lĩnh vực Xã hội; kinh tế; tổ chức hỗn hợp Giáo dục đào tạo: nghiên cứu và phát triển; 4 Theo loại hình đổi mới; đầu tư; tổng hợp Ngắ n hạn (1-2 năm); trung hạn (3-5 năm); dài 5 Theo thời hạn hạn (trên 5 năm) Quốc tế; Quốc gia; vùng; miền; liên ngành; 6 Theo khu vực địa phương 7 Theo chủ đầu tư Nhà nước; doanh nghiệp; cá thể riêng lẻ Dự án đầu tư tài chính; dự án đầu tư vào đối 8 Theo đối tượng đầu tư tượng vật cụ thể Vốn từ Ngân sách Nhà nước; vốn ODA; vốn tín dụng; vốn tự huy động của DN Nhà nước; vốn 9 Theo nguồn vốn liên doanh với nước ngoài; vốn góp của dân; vốn của các tổ chức ngoài quốc doanh; vốn FDI,. Nguồn: Quản lý dự án đầu tư xây dựng (Trịnh Quốc Thắng, 2009) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều 1. Khái niệm thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều Thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình đê điều là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, có khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của một dự án, từ đó ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư [3]. Đây là một quá trình kiểm tra, đánh giá các nội dung của dự án một cách độc lập tách biệt với quá trình soạn thảo dự án. Thẩm định dự án tạo ra cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả.
Các kết luận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư. Sự cần thiết phải thẩm định Thẩm định dự án đầu tư là cần thiết bắt nguồn từ vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với các hoạt động đầu tư. Nhà nước với chức năng công quyền của mình sẽ can thiệp vào quá trình lựa chọn các dự án đầu tư. Chủ đầu tư muốn khẳng định quyết định đầu tư của mình là đúng đắn, các tổ chức tài chính tiền tệ muốn tài trợ hay cho vay vốn đối với dự án, để ngăn chặn sự đổ bể, lãng phí vốn đầu tư, thì cần kiểm tra lại tính hiệu quả, tính khả thi và tính hiện thực của dự án.