phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của bài nghiên cứu gồm ba chƣơng chính Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cung ứng dịch vụ logistics bằng đƣờng biển Chƣơng 1 sinh viên sẽ đề cập tới các lý thuyết cơ bản của hoạt động cung ứng dịch vụ logistics cho hàng hóa xuất khẩu bằng đƣờng biển. Làm khung lý luận để phân tích thực trang ở chƣơng 2 và làm tiêu chuẩn để đánh giá so sánh đƣa ra các giải pháp hoàn thiện ở chƣơng 3. Chƣơng 2: Phân tích, đánh giá thực trạng cung ứng dịch vụ logistics hàng xuất khẩu bằng đƣờng biển của Công ty cổ phần Tốc Độ. Sinh viên nêu khái quát về công ty và phân tích đánh giá thực trạng về hoạt động cung ứng dịch vụ logistics cho hàng hóa xuất khẩu bằng đƣờng biển tại trụ sở Công ty Cổ Phần Tốc Độ Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động cung ứng dịch vụ logistics hàng xuất khẩu bằng đƣờng biển của Công ty cổ phần Tốc Độ Dựa trên thực tế của công ty đƣa ra các định hƣớng phát triển và từ sự so sánh của chƣơng 1 với chƣơng 2 đƣa ra các giải pháp hoàn thiện quy trình cung ứng dịch vụ logistics cho hàng xuất khẩu bằng đƣờng biển của công ty Cổ Phần Tốc Độ.
5 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS BẰNG ĐƢỜNG BIỂN 1. Tổng quan về hoạt động cung ứng dịch vụ logistics 1. Khái niệm về logistics và dịch vụ logistics 1. Khái niệm về Logistics Hoạt động logistics đã tồn tại từ rất lâu từ lúc con ngƣời biết đến dự trữ, vận chuyển, phân phối, .Tuy nhiên thuật ngữ “Logistics” mới đƣợc biết đến và đƣợc sử dụng trong vài thế kỷ trƣớc.
Logistics có nguồn gốc từ các cuộc chiến tranh của La Mã – Hy Lạp khi mà các chiến binh phối hợp với nhau một cách chặt chẽ để vận chuyển, phân phối các nhu yếu phẩm phục vụ cho chiến trƣờng. Trải qua nhiều mốc thời gian, logistics phát triển trong hầu hết tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, trở thành một phần không thể thiếu trong giao thƣơng trong nƣớc và quốc tế. Hiện nay logistics không có khái niệm cụ thể, dù có rất nhiều các khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới đƣợc xây dựng tùy thuộc vào lĩnh vực ngành nghề, mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, có thể kể đến một số khái niệm về logistics nhƣ sau:Năm 2001, Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng Hoa Kỳ (CSCMP -Council of Supply Chain Management Professionals) đã đƣa ra một khái niệm tƣơng đối chính xác và toàn diện: “Logistics được định nghĩa là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng”.
Tại Đại học Thƣơng Mại theo cuốn giáo trình “Quản trị logistics Kinh doanh” do cô An Thị Thanh Nhàn biên soạn, nếu ra khái niệm: “logistics là một chuỗi kết hợp nhiều hoạt động kinh tế nhằm tối ưu hoá vị trí và quá trình vận động của dự trữ hàng hoá trong các dòng cung ứng”. Đây là một số khái niệm phổ biến về logistics, còn rất nhiều cách định nghĩa khác về logistics. Tuy nhiên về bản chất, thì tất cả các khái niệm về logistics đều cho thấy rằng logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động nhằm kiểm soát dòng lƣu chuyển thông tin/ hàng hóa đến tay ngƣời tiêu dùng. Khái niệm dịch vụ logistics Cho đến nay, logistics đã phát triển và đƣợc coi là một ngành dịch vụ.
Dịch vụ logistics đƣợc hiểu là một loại sản phẩm dịch vụ do các doanh nghiệp logistics cung cấp cho các đối tƣợng có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics nhƣ các công ty thƣơng mại, công ty xuất nhập khẩu,… Trong quá trình hình thành và phát triển dịch vụ logistics nhƣ các công ty thƣơng mại, công ty xuất nhập khẩu,… Trong quá trình hình thành và phát triển dịch vụ logistics cũng đƣợc nghiên cứu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau có thể kể đến nhƣ sau: Theo Luật thƣơng mại Việt Nam (2005) tại Điều 233 – Mục 4 – Chƣơng VI quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã 6 hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” Nhìn chung, khái niệm dịch vụ logistics có thể đƣợc chia theo hai nghĩa là nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Theo nghĩa hẹp, dịch vụ logistics bản chất gần giống nhƣ hoạt động giao nhận hàng hóa. Ví dụ nhƣ khái niệm logistics đƣợc đề cập trong Luật thƣơng mại Việt Nam (2005) vẫn đƣợc đề cập theo hƣớng mở, thể hiện ở “hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa”. Khái niệm logistics trong nhóm này hạn chế về phạm vi, có nghĩa là chỉ áp dụng trong một lĩnh vực chuyên ngành nào đó. Nhƣ vậy có thể thấy rằng, bản chất của dịch vụ logistics là những yếu tố hỗ trợ cho quá trình lƣu chuyển hàng hóa từ điểm sản xuất cho đến tay ngƣời tiêu dùng.
Theo nghĩa rộng, phạm vi của dịch vụ logistics mang tính bao quát hơn, nó bao gồm tất cả các hoạt động từ nguồn cung đầu vào để tạo ra thành phẩm đầu ra cho đến quá trình vận chuyển, phân phối đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Nhƣ vậy có thể thấy rằng, nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp thuộc nhóm rộng cần đảm nhận tất cả từ khâu nhập nguyên liệu đầu vào cho đến quá trình vận chuyển hàng hóa đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Nhóm định nghĩa này cho thấy sự khác biệt giữa một nhà cung cấp “trọn gói” toàn bộ các khâu so với một nhà cung cấp dịch vụ logistics riêng lẻ nhƣ dịch vụ giao nhận, vận chuyển, khai báo hải quan, … 1. Đặc điểm của dịch vụ logistics Dịch vụ logistics có tính đặc thù riêng và bao gồm một vài đặc điểm nhƣ sau: Thứ nhất, nhƣ các dịch vụ trong lĩnh vực khác, dịch vụ logistics không phải là một sản phẩm hữu hình, khách hàng chỉ có thể cảm nhận và đánh giá chất lƣợng của dịch vụ logistics sau khi đã sử dụng dịch vụ logistics với các tiêu chuẩn đánh giá nhƣ: thời gian, độ an toàn và nguyên vẹn của hàng hóa, tính chính xác về địa điểm, chất lƣợng hàng… Thứ hai, chủ thể tham gia vào dịch vụ logistics gồm có hai bên tham gia đó là ngƣời cung cấp dịch vụ và sử dụng dịch vụ.
Đối với nhà cung cấp dịch vụ logistics thì họ phải là thƣơng nhân, có đăng ký giấy phép kinh doanh để có hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ logistics với cơ quan có thẩm quyền. Đối với khách hàng là ngƣời có hàng hóa và có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics, ngoài ra khách hàng cũng có thể là nhà vận chuyển, doanh nghiệp sở hữu kho… Có thể thấy, khách hàng là bất kỳ ai, miễn là họ có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics. Thứ ba, dịch vụ logistics rất đa dạng, nó bao gồm chuỗi các dịch vụ từ khâu cung ứng hàng hóa, sản xuất, phân phối cho tới tiêu dùng. Dịch vụ logistics có tính tích hợp cao, khi mà nó cần khả năng phối hợp nhịp nhàng giữa các hoạt động riêng lẻ thành một chuỗi thống nhất, hỗ trợ và tƣơng tác cho nhau để đặt đƣợc hiệu suất cao nhất.
Hiện nay, khi mà nền sản xuất kinh doanh, thƣơng mại ngày càng hiện đại, phát triển, mang đặc tính tích hợp cao thì dịch vụ logistics cũng cần có đặc tính này nhằm đáp ứng đƣợc nhu cầu thị trƣờng. Thứ tư, dịch vụ logistics đƣợc thực hiện trên cở sở hợp đồng ký kết, thỏa thuận giữa các bên tham gia. Theo đó, nhà cung cấp có nghĩa vụ thực hiện, tổ chức một hoặc 7 nhiều hoạt động dịch vụ liên quan đến quá trình lƣu thông hàng hóa, còn khách hàng có nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ theo yêu cầu hợp đồng. Vai trò của dịch vụ logistics Vai trò của logistics đƣợc nhìn nhận dựa trên hai góc độ là vai trò của dịch vụ logistics đối với nền kinh tế và vai trò đối với doanh nghiệp.
Đối với nền kinh tế Dịch vụ logistics là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu. Thật vậy, Với bƣớc nhảy vọt về khoa học công nghệ khi, tốc độ phát triển của thị trƣờng toàn thế giới ngày một đƣợc mở rộng. Trong đó dịch vụ logistics đƣợc coi là một công cụ, phƣơng tiện với mục đích liên kết các lĩnh vực khác nhau, giúp cho doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tham gia vào các hoạt động giao thƣơng quốc tế. Dịch vụ logistics phát triển giúp kết nối các quốc gia, khu vực với nhau.
Dịch vụ logistics góp phần mở rộng thị trường, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các công ty sản xuất, thƣơng mai muốn mở rộng thị trƣờng thì cần phải có công ty cung cấp dịch vụ logistics. Bởi dịch vụ logistics là công cụ giúp dịch chuyển hàng hóa giữa các khu vực theo yêu cầu đúng về địa điểm, thời và chất lƣợng hàng hóa nhƣ trong hợp đồng vận tải. Dịch vụ logistics phát triển sẽ giúp các doanh nghiệp sản xuất có thể tập trung vào năng lực lõi của mình và dễ dàng tham gia vào thị trƣờng mới hơn với chi phí thấp hơn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Dịch vụ logistics giúp giảm chi phí trong việc lưu thông, phân phối. Chi phí vận tải chiếm tỷ lệ không nhỏ trong việc cấu thành giá cả sản phẩm trên thị trƣờng, đặc biệt là trong thị trƣờng quốc tế. Việc dịch vụ logistics phát triển, ngày càng hoàn thiện sẽ giúp hạn chế đƣợc chi phí vận tải và các chi phí phát trình trong quá trình lƣu thông hàng hóa, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển. Dịch vụ logistics giúp nâng cấp năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong xu thế toàn cầu hóa, nền sản xuất toàn cầu ngành càng cạnh tranh gay gắt và dịch vụ logistics chính là một trong các yếu tố chủ chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của một quốc gia. Nền kinh tế sẽ hoạt động trơn tru, hiệu quả khi mà chuỗi cung ứng logistics hoạt động một cách nhịp nhàng.