CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và đặc điểm của tài sản trong doanh nghiệp 1. Khái niệm * Khái niệm tài sản Tài sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mọi mặt của đời sống con người và cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, khái niệm tài sản ngày càng được mở rộng hơn. Nhiều nhà kinh tế và luật gia cho rằng tài sản theo nghĩa hiện đại là một khái niệm tổng hợp bao gồm của cải, của cải vật chất và các quyền công dân gắn liền với của cải vật chất.
Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản […]. Quyền tài sản là quyền thể hiện bằng lợi ích kinh tế, của cải vật chất thường đo lường được bằng tiền, bao gồm tất cả các quyền như: quyền vật chất, quyền nợ, quyền thừa kế, trong đó chủ yếu là quyền tài sản, được Hiến pháp bảo hộ và luật pháp. Có thể thấy được sự tồn tại của tài sản luôn gắn liền với các quyền tài sản (bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản) của một chủ thể nhất định. Vẫn theo Bộ luật Dân sự đang có hiệu lực, ở nước ta có 3 hình thức sở hữu, đó là: (1) Sở hữu toàn dân; (2) tài sản riêng; (4) tài sản chung [….
Mỗi dạng tài sản thể hiện quan hệ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của một số chủ thể đối với tài sản; Chủ thể này có thể là các cá nhân, có thể là một số cá nhân, cũng có thể là các cơ quan công quyền. * Khái niệm tài sản trong doanh nghiệp Tài sản trong doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực thực tế, hữu hình hoặc vô hình, bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của công ty tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai tại công ty này.[7] 7 * Phân loại tài sản Tài sản được chia thành hai loại là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. - Tài sản ngắn hạn: là tài sản có lượng thời gian hoàn vốn ngắn, thời gian hoàn vốn phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của công ty. Đối với các công ty có chu kỳ kinh doanh bình thường dưới 12 tháng, tài sản có thể được vốn hóa hoặc thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính được coi là tài sản ngắn hạn.
Đối với các công ty có chu kỳ kinh doanh trên 12 tháng, các tài sản có thể hoàn vốn hoặc thanh toán cho một chu kỳ kinh doanh sau khi kết thúc năm tài chính được phân loại là tài sản ngắn hạn. Trong tài sản ngắn hạn được chia ra bao gồm như: tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, tài sản tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu hiện tại và các tài sản ngắn hạn khác.[7] + Tiền và các khoản tương đương tiền như hệ thống tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán lưu động, tiền đang chuyển. Một số khoản đầu tư tài chính ngắn hạn như trái phiếu, cổ phiếu. Các khoản phải thu ngắn hạn như phải thu khách hàng, phải thu người bán, phải thu nội bộ,.
+ Trong đó hàng tồn kho được chia ra bao gồm là: Mọi công cụ dụng cụ, thành phẩm,nguyên vật liệu, hàng gửi bán, hàng mua đang đi đường,. Tài sản lưu động nói chung là một bộ phận của một nền kinh tế. chu kỳ và được phục hồi sau một chu kỳ sản xuất và hoạt động. + Đầu tư tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tư vào chứng khoán có thời gian đáo hạn dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh tế (như tín phiếu kho bạc, tiền giấy .) hoặc chứng khoán được mua bán (cổ phiếu, trái phiếu) để thu lợi và các khoản tài chính khác.
các khoản đầu tư trong thời hạn tối đa là một năm. + Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu khách hàng ngắn hạn, các khoản phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời gian đáo hạn hoặc khả năng thanh toán dưới một năm. 8 + Tài sản ngắn hạn khác trong đó bao gồm các khoản chi phí trả trước ngắn hạn, thuế và các khoản phải thu Nhà nước, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, tài sản ngắn hạn khác. - Tài sản dài hạn: Tài sản dài hạn thường có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức.
Đối với các tổ chức doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh thông thường dưới 12 tháng thì tài sản đó được coi là tài sản có thể thu hồi hoặc tất toán vốn sau 12 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Đối với các doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh trên 12 tháng thì tài sản có thể thu hồi hoặc tất toán vốn sau một chu kỳ kinh doanh sau khi kết thúc năm tài chính được coi là tài sản. Tài sản và nợ phải trả của các tổ chức doanh nghiệp bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định (TSCĐ), bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác.[7] + Mọt số các khoản phải thu dài hạn như: phải thu nội bộ, phải thu khách hàng. + Các khoản đầu tư tài chính dài hạn như TSCĐ, BĐSĐT, công ty con, công ty liên kết, liên doanh, đầu tư chứng khoán.
Hầu như cố định vào tài sản doanh nghiệp thông thường tổng tài sản chiếm một tỷ lệ cao. Tài sản của doanh nghiệp được mua, xây mới hoặc lắp đặt bằng tiền mặt và được đầu tư từ tài sản cố định. Các nguồn vốn cố định của một công ty thường bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn. Nguồn vốn này được thu hồi bởi các công ty có lãi sau chu kỳ kinh doanh.
Khi một công ty bị thua lỗ, nó dần dần mất vốn. Do đó, việc phân tích hiệu quả dài hạn là nhu cầu cấp thiết để duy trì và phát triển vốn. Tài sản cố định thường là cơ sở vật chất kỹ thuật cơ bản của doanh nghiệp, tổ chức, thể hiện năng lực và trình độ kỹ thuật hiện có của doanh nghiệp; là tài sản định như máy móc, thiết bị sản xuất cần thiết quan trọng để giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao năng suất lao động. Đặc điểm của tài sản trong doanh nghiệp - Tài sản công trong doanh nghiệp được hình thành từ ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, bao gồm tài sản được xác định là sở hữu của nhà nước và bàn giao cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng như đất đai, …; tài sản được mua sắm, đầu tư từ ngân sách của nhà nước cấp.
Tài sản công trong các doanh nghiệp còn được hình thành do tài trợ, viện trợ của các tổ chức, cá nhân, các nguồn vốn vay, cá nguồn quỹ được trích lập theo quy định của pháp luật như quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, … Những tài sản này tuy nhà nước không phải là người đầu tư trực tiếp nhưng trước khi giao cho các doanh nghiệp sử dụng đều phải làm các thủ tục xác lập quyền sở hữu nhà nước, giá trị của các tài sản đó đều được ghi thu hoặc ghi chi cho ngân sách nhà nước nên chúng đều được coi là tài sản có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. - Tài sản trong các doanh nghiệp đều được pháp luật bảo vệ. Tài sản trong doanh nghiệp có thể có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có thể từ UBND, có thể từ nguồn vốn của doanh nghiệp. Từ trước đến nay, pháp luật nước ta đã có những quy định rõ ràng đối với việc bảovệ các tài sản của doanh nghiệp.
Từ những năm 1970, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, trong đó quy định: Tài sản xã hội chủ nghĩa là thiêng liêng, tuyệt đối không ai được xâm phạm và có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản đó. Mọi hành vi xâm phạm tài sản cần phải được nhận ra kịp thời và bị trừng phạt nghiêm khắc. Mọi hành vi che đậy tội phạm đều bị cấm. Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (2008) quy định sáu hành vi bị nghiêm cấm.
- Sử dụng hoặc lạm dụng địa vị và quyền hạn đối với bất kỳ hình thức tài sản nhà nước thích hợp nào. - Hành vi cố ý vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng tài sản. - Sử dụng tài sản của nhà nước vào mục đích không đúng với chế độ, 10 tiêu chuẩn, định mức. Sử dụng sang trọng tài sản của chính phủ hoặc sang trọng không sử dụng tài sản được giao.
Sử dụng trái phép tài sản vào mục đích kinh doanh. - Phá hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của nhà nước. Chiếm giữ, sử dụng trái pháp luật tài sản của Nhà nước. - Thiếu trách nhiệm hành chính để xảy ra vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản thuộc sở hữu nhà nước.
- Đáp ứng nhu cầu không chính xác và đúng nghĩa vụ theo quy địnhcủa nhà nước về sử dụng và quản lý tài sản. Tài sản của doanh nghiệp là công cụ thuớc đo để thực hiện các nhiệm vụ, chức năng được giao. Vì vậy, một mặt, có những hạn chế về phạm vi sở hữu hợp pháp, và mọi hành động được thực hiện, sở hữu, sử dụng, thu lợi, v. liên quan đến tài sản của công ty phải dựa trên những quy định sau: Hạn chế lạm dụng, chiếm đoạt tài sản.
Mặt khác, pháp luật còn quy định chế độ quản lý tài sản, xây dựng cơ quan chuyên môn để quản lý tài sản, xây dựng nguyên tắc quản lý để tăng cường quản lý thường xuyên đối với tài sản của doanh nghiệp, quy định các biện pháp chế tài tương ứng đối với hành vi phạm pháp xâm phạm tài sản, bảo đảm lợi ích công của nhà nước, lợi ích chung của doanh nghiệp, của xã hội không bị xâm phạm bởi lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. - Quyền sử dụng tài sản trong các doanh nghiệp được tách biệt với quyền sở hữu.