Chương 1: Lý luận chung về quản lý tài chính tại cơ quan hành chính Nhà nước; Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Kho bạc Nhà nước Hải Phòng giai đoạn 2013 - 2017; Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Kho bạc Nhà nước Hải Phòng giai đoạn 2018 - 2022. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Lý luận chung về cơ quan hành chính Nhà nước 1. Khái niệm cơ quan hành chính Nhà nước - Cơ quan hành chính Nhà nước là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan Nhà nước, được thành lập theo quy định của pháp luật (Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh) có tổ chức và hoạt động theo quyết định của pháp luật; sử dụng quyền lực Nhà nước thực thi chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định; - Cơ quan hành chính Nhà nước là một loại cơ quan thuộc quyền lực Hành pháp, được lập ra để thực thi pháp luật do cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành.
Thẩm quyền của chúng chỉ giới hạn trong phạm vi chấp hành, điều hành và chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực cùng cấp; - Hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước mang tính thường xuyên, liên tục và tương đối ổn định, là cầu nối trực tiếp nhất đưa đường lối, chính sách, pháp luật vào cuộc sống. - Tổ chức của cơ quan hành chính Nhà nước có mối quan hệ trực thuộc theo một thứ bậc chặt chẽ (quan hệ mệnh lệnh) tạo thành một hệ thống thống nhất từ trung ương xuống các cấp ở địa phương; - Chức năng quan trọng và chủ yếu của Cơ quan hành chính Nhà nước là quản lý, điều hành các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội một cách độc lập tương đối trong phạm vi một quốc gia hay một địa phương nhất định. Cơ quan hành chính Nhà nước là thuật ngữ được sử dụng khi nói về "một bộ phận (cơ quan) cấu thành của bộ máy hành chính Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để thực hiện chức năng quản lý, điều hành (chức năng hành pháp) đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội". Đặc điểm của cơ quan hành chính Nhà nước Cơ quan hành chính Nhà nước là một loại cơ quan Nhà nước, là một bộ phận cấu thành bộ máy Nhà nước.
Do vậy, cơ quan hành chính Nhà nước cũng mang đầy đủ các đặc điểm chung của các cơ quan Nhà nước. Cụ thể: Một là, cơ quan hành chính Nhà nước hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, được tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Tính quyền lực Nhà nước thể hiện ở chỗ: Cơ quan hành chính Nhà nước là một bộ phận của bộ máy Nhà nước; cơ quan hành chính Nhà nước nhân danh Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Hai là, mỗi cơ quan hành chính Nhà nước đều hoạt động dựa trên những quy định của pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền nhất định và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao.
Hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước có cơ cấu, tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan hành chính Nhà nước do pháp luật quy định, đó là tổng thể những quyền và nghĩa vụ cụ thể mang tính quyền lực, được Nhà nước trao cho để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình, cụ thể: Các cơ quan Nhà nước tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật. Trong quá trình hoạt động có quyền ban hành các quyết định hành chính thể hiện dưới hình thức là các văn bản pháp quy và các văn bản cá biệt; được thành lập theo quy định của Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh hoặc theo quyết định của cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên; được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước cùng cấp và báo cáo hoạt động trước cơ quan quyền lực Nhà nước cùng cấp; có tính độc lập và sáng tạo trong tác nghiệp điều hành nhưng theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc quyền lực phục tùng. Ba là, về mặt thẩm quyền thì cơ quan hành chính Nhà nước được quyền đơn phương ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính và văn bản đó có 5 hiệu lực bắt buộc đối với các đối tượng có liên quan; cơ quan hành chính Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các đối tượng chịu sự tác động, quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước.
Nguồn kinh phí quản lý hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước Nguồn kinh phí để duy trì hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước chủ yếu là từ Ngân sách Nhà nước cấp. Ngoài ra, các cơ quan hành chính Nhà nước còn được phép thu và để lại sử dụng một số khoản thu phí, lệ phí, thu khác… để bổ sung nguồn kinh phí nhưng chủ yếu vẫn do Nhà nước cấp kinh phí. Cụ thể: a) Kinh phí Ngân sách Nhà nước cấp, gồm: - Kinh phí hoạt động thường xuyên: Là kinh phí chi cho các hoạt động mang tính thường xuyên, bao gồm: + Chi thanh toán cho cá nhân: tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, các khoản đóng góp theo lương (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn), phúc lợi tập thể, tiền thưởng và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định. + Chi nghiệp vụ chuyên môn: thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, thông tin, tuyên truyền, liên lạc, hội nghị, công tác phí, chi cho các đoàn đi công tác nước ngoài và các đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam, chi phí thuê mướn, chi nghiệp vụ chuyên môn… + Chi mua sắm tài sản, sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng thường xuyên cơ sở vật chất, Nhà cửa, máy móc thiết bị… + Chi phí khác có tính chất thường xuyên.
- Kinh phí hoạt động không thường xuyên: Là những khoản chi không mang tính thường xuyên, phục vụ nhiệm vụ của cơ quan hành chính Nhà nước, theo sự phê duyệt của cơ quan quản lý cấp trên, gồm: + Chi mua sắm, chi sửa chữa lớn tài sản cố định; 6 + Chi thực hiện các nhiệm vụ có tính chất đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; + Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; + Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước; + Kinh phí thực hiện tinh giản biên chế; + Kinh phí nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Ngành; + Kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; + Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên khác. b) Các khoản phí, lệ phí được để lại đơn vị: Mức thu phí, lệ phí, tỷ lệ nguồn thu được để lại sử dụng cho đơn vị, nội dung chi được thực hiện theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. c) Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật: Thu từ viện trợ, vay, kinh phí ủng hộ của cá nhân, tổ chức khác. Cơ chế quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính Nhà nước 1.
Mục tiêu thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải đảm bảo các mục tiêu sau: Một là, tạo điều kiện cho các cơ quan chủ động trong việc sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính một cách hợp lý nhất để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Hai là, thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng lao động, kinh phí quản lý hành chính. Ba là, nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả sử dụng kinh phí quản lý hành chính, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức. Bốn là, thực hiện quyền tự chủ đồng thời gắn với trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị và cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật.
Nội dung chi kinh phí giao thực hiện chế độ tự chủ 1. Nguồn kinh phí quản lý hành chính để thực hiện chế độ tự chủ Kinh phí quản lý hành chính giao cho cơ quan thực hiện chế độ tự chủ từ các nguồn sau: - Ngân sách Nhà nước cấp; - Các khoản phí, lệ phí được để lại theo chế độ quy định; - Các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Xác định kinh phí để giao thực hiện chế độ tự chủ: Kinh phí quản lý hành chính của các cơ quan thực hiện chế độ tự chủ được xác định và giao hằng năm cụ thể như sau: - Kinh phí NSNN cấp: Mức kinh phí NSNN cấp thực hiện chế độ tự chủ được xác định trên cơ sở chỉ tiêu biên chế được cấp có thẩm quyền giao, kể cả biên chế dự bị (nếu có), định mức phân bổ dự toán chi NSNN tính trên biên chế, các khoản chi hoạt động nghiệp vụ đặc thù theo chế độ quy định và tình hình thực hiện dự toán năm trước. Định mức phân bổ dự toán chi NSNN cho các Bộ, cơ quan trung ương do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Định mức phân bổ NSNN đối với các cơ quan thuộc các Bộ, các cơ quan Trung ương do Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan trung ương quy định trên cơ sở cụ thể hóa định mức phân bổ dự toán chi ngân sách do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Định mức phân bổ dự toán chi NSNN đối với cơ quan thuộc địa phương do Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định. - Phần thu phí, lệ phí được để lại để trang trải chi phí thu và các khoản thu khác: + Trường hợp cơ quan thực hiện chế độ tự chủ được cấp có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí thì việc xác định mức phí, lệ phí được trích để lại bảo đảm hoạt động phục vụ thu căn cứ vào các văn bản do cơ quan có thểm quyền quy định (trừ số phí, lệ phí được để lại để mua sắm tài sản cố định và các quy định khác, nếu có); 8 + Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có).