phần mở đầu và kết luận bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hàng giả và công tác quản lý phòng, chống hàng giả Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý phòng, chống hàng giả tại Chi cục quản lý thị trƣờng tỉnh Bắc Ninh Chƣơng 4: Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý phòng, chống hàng giả tại Chi cục quản lý thị trƣờng tỉnh Bắc Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÀNG GIẢ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ PHÒNG, CHỐNG HÀNG GIẢ 1. Cơ sở lý luận về hàng giả 1. Một số khái niệm về hàng giả Hàng giả là một thuật ngữ dùng để phân biệt và so sánh với hàng thật.
Thuật ngữ “hàng giả” không đƣợc định nghĩa trong từ điển tiếng Việt. Ở các nƣớc trên thế giới cũng chƣa có định nghĩa tổng quát về hàng giả. Theo Mác-Lênin, hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con ngƣời, đƣợc sản xuất ra để trao đổi, mua bán trên thị trƣờng. Hàng hóa bao giờ cũng có hai thuộc tính: Giá trị sử dụng và giá trị.
Một sản phẩm chỉ trở thành hàng hóa khi nó thỏa mãn hai thuộc tính vừa nêu. Theo từ điển tiếng Việt: Giả có nghĩa là không phải thật mà là đƣợc làm ra với bề ngoài giống nhƣ thật, thƣờng để đánh lừa. Theo Viện Sở hữu trí tuệ - Liên bang Thụy sĩ: Không có định nghĩa đƣợc công nhận của hàng giả. Định nghĩa về giả của Hiệp định TRIPS (hiệp định Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ liên quan đến thƣơng mại của Tổ Chức Thƣơng Mại Thế Giới (WTO)) cũng nhƣ Quy chế vi phạm bản quyền sản phẩm của Liên minh châu Âu (EU): Giả là xâm phạm quyền sở hữu độc quyền về bằng sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý với mục đích bắt chƣớc các sản phẩm gốc.
Ở Việt Nam có nhiều văn bản đề cập đến thuật ngữ hàng giả, nhƣng hiện nay chƣa có sự thống nhất về khái niệm hàng giả. Theo điều 3 Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả nêu rõ ữ ợc sản xuất ra trái pháp luậ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 ; hoặc nhữ. Trong quá trình thực hiện những quy định này đã cho thấy hàng giả đƣợc quy định tại Nghị định số 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trƣởng chƣa thể hiện rõ các dấu hiệu về mặt bản chất của hàng giả; khái niệm về hàng giả còn đƣợc đề cập chung chung dƣới dạng liệt kê. Hoạt động của thực tiễn đòi hỏi phải có sự phân định rõ ràng hơn về hàng giả giúp cho công tác đấu tranh ngăn ngừa, chống hàng giả tránh đƣợc những khó khăn trong xử lý các hành vi vi phạm.
Đến nay, Nghị định này đã hết hiệu lực thi hành. Qua thực tế đấu tranh chống hàng giả, các vi phạm về sản xuất, buôn bán hàng giả, ngày 27/04/2000, Liên Bộ Thƣơng mại - Bộ Tài chính - Bộ Công an - Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trƣờng đã ban hành thông tƣ liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT về hƣớng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tƣớng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả qui định hàng hóa có một trong các dấu hiệu sau đây đƣợc coi là hàng giả: 1- Hàng giả chất lượng hoặc công dụng 1.1- Hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng nhƣ bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó.2- Hàng hóa đƣa thêm tạp chất, chất phụ gia không đƣợc phép sử dụng làm thay đổi chất lƣợng; không có hoặc có ít dƣợc chất, có chứa dƣợc chất khác với tên dƣợc chất ghi trên nhãn hoặc bao bì; không có hoặc không đủ hoạt chất, chất hữu hiệu không đủ gây nên công dụng; có hoạt chất, chất hữu hiệu khác với tên hoạt chất, chất hữu hiệu ghi trên bao bì.3- Hàng hóa không đủ thành phần nguyên liệu hoặc bị thay thế bằng những nguyên liệu, phụ tùng khác không đảm bảo chất lƣợng so vớI tiêu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 chuẩn chất lƣợng hàng hóa đã công bố, gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khỏe ngƣời, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trƣờng.4- Hàng hóa thuộc danh mục Tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng mà không thực hiện gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khỏe ngƣời, động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trƣờng.5- Hàng hóa chƣa đƣợc chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn mà sử dụng giấy chứng nhận hoặc dấu phù hợp tiêu chuẩn (đối với danh mục hàng hóa bắt buộc). 2- Giả về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa: 2.1- Hàng hóa có nhãn hiệu hàng hóa trùng hoặc tƣơng tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa của ngƣời khác đang đƣợc bảo hộ cho cùng loạI hàng hóa kể cả nhãn hiệu hàng hóa đang đƣợc bảo hộ theo các Điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam tham gia, mà không đƣợc phép của chủ nhãn hiệu.2- Hàng hóa có dấu hiệu hoặc có bao bì mang dấu hiệu trùng hoặc tƣơng tự gây nhầm lẫn với tên thƣơng mại đƣợc bảo hộ hoặc với tên gọi xuất xứ hàng hóa đƣợc bảo hộ 2.3- Hàng hóa, bộ phận của hàng hóa có hình dáng bên ngoài trùng với kiểu dáng công nghiệp đang đƣợc bảo hộ mà không đƣợc phép của chủ kiểu dáng công nghiệp.4- Hàng hóa có dấu hiệu giả mạo về chỉ dẫn nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa gây hiểu sai lệch về nguồn gốc, nơi sản xuất, nơi đóng gói, lắp ráp hàng hóa. 3- Giả về nhãn hàng hóa 3.1- Hàng hóa có nhãn hàng hóa giống hệt hoặc tƣơng tự với nhãn hàng hóa của cơ sở khác đã công bố 3.2- Những chi tiêu ghi trên nhãn hàng hóa không phù hợp với chất lƣợng hàng hóa nhằm lừa dối ngƣời tiêu dùng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.3- Nội dung ghi trên nhãn bị cạo, tẩy xóa, sửa đổi, ghi không đúng thời hạn sử dụng để lừa dối khách hàng.
4- Các loại ấn phẩm đã in sử dụng vào việc sản xuất, tiêu thụ hàng giả: 4.1- Các loại đề can, tem sản xuất, nhãn hàng hóa, mẫu nhãn hiệu hàng hóa, bao bì sản phẩm có dấu hiệu vi phạm nhƣ: trùng hoặc tƣơng tự gây nhầm lẫn với nhãn hàng hóa cùng loại, với nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi xuất xứ hàng hóa đƣợc bảo hộ.2- Các loại hóa đơn, chứng từ, chứng chỉ, tem, vé, tiền, ấn phẩm có giá trị nhƣ tiền, ấn phẩm và sản phẩm văn hóa giả mạo khác. Theo Thông tƣ liên tịch này thì hàng giả có hai loại: giả về chất lƣợng, công dụng và giả về hình thức. Hàng giả về chất lƣợng, công dụng thƣờng là những hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với tên gọi, công dụng của nó, không đảm bảo tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật đã đƣợc quy định. Còn hàng giả về hình thức có nghĩa là giả về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, nhãn hàng hóa.
Theo khoản 8 điều 3 Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại quy định hàng giả bao gồm: - Hàng giả chất lƣợng và công dụng: Hàng hoá không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng hàng hoá; - Giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa: hàng hóa giả mạo tên, địa chỉ của thƣơng nhân khác trên nhãn hoặc bao bì cùng loại hàng hóa; hàng hóa giả mạo chỉ dẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp trên nhãn hoặc bao bì hàng hóa; - Giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang đƣợc bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không đƣợc phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý; hàng hóa là bản sao đƣợc sản xuất mà không đƣợc phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan; - Các loại đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, tem chất lƣợng, tem chống giả, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa có nội dung giả mạo tên, địa chỉ thƣơng nhân, nguồn gốc hàng hóa, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa (sau đây gọi tắt là tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả); - Đối với hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành nếu pháp luật có quy định riêng thì áp dụng các quy định đó để xác định hàng giả. Tóm lại, hàng giả là hàng bất hợp pháp so với hàng thật đƣợc pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Từ cơ sở thực tiễn và những phân tích trên, có thể khái quát về hàng giả ữ ật có hình dáng giống nhƣ những sản phẩm hàng hóa đƣợ ữ , là loại sản phẩm hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giống hệt hoặc tƣơng tự có khả năng làm cho ngƣời tiêu dùng nhầm lẫn với sản phẩm hàng hóa thật mà cơ sở sản xuất kinh doanh đã đăng ký với cơ quan bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp hoặc đƣợc bảo hộ theo điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam có tham gia. Nội dung công tác quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả Hàng hóa nói chung, hàng giả nói riêng là đối tƣợng thuộc Nhà nƣớc điều chỉnh, quản lý.
Nhà nƣớc không thừa nhận hàng giả nhƣng trên thực tế hàng giả vẫn tồn tại, do đó Nhà nƣớc vẫn phải quản lý. Tuy nhiên, Nhà nƣớc không quản lý hàng giả ở góc độ hàng hóa mà quản lý hàng giả thông qua công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 10 các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thƣơng mại trên thị trƣờng. Và vấn đề đặt ra là Nhà nƣớc quản lý công tác phòng, chống hàng giả nhƣ thế nào để phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi vi phạm liên quan đến hàng giả trong lĩnh vực kinh doanh hàng hóa.